Triệu chứng bệnh tích chẩn đoán phòng trừ giun sán ở vật nuôi

Bệnh giun sán ở vật nuôi: Sán lá ruột lợn do Fasciolopsis buski, Sán lá sinh sản gia cầm do Prosthogominus, Sán lá ruột gia cầm do Echinostoma, Sán dây loài gia cầm do Raillietina, Bệnh sán lá dạ cỏ do Paramphistomatata. Bệnh sán lá gan ở loài nhai lại do Fascioia

Sán lá ruột lợn do Fasciolopsis buski:

– Hình thái căn bệnh:

Fasciolopsis buski có hình lá, màu đỏ hồng, phình rộng phía sau, thon nhỏ dần về phía đầu. Sán dài 20-70 mm, rộng 8- 20 mm, dày 0,5- 3 mm.
Thân có phủ những gai nhỏ, có 2 giác bám gần nhau ở trước cơ thể. Giác bụng lớn hơn giác miệng. Thực quản ngắn, hầu nhỏ. Manh tràng phân thành 2 nhánh ngoằn ngoèo ở hai bên và kéo dài tới cuối thân. Hai tinh hoàn phân nhánh nhiều, xếp trên dưới nhau ở phần sau thân sán.Buồng trứng phân nhánh ở phải trước tinh hoàn và hơi lệch về phía bên trái. Túi sinh dục hình ống thong với bên ngoài qua lỗ sinh dục phía trước giác bụng. Tuyến noãn hoàng phân nhánh hình cành cây ở 2 bên thân sán.

Trứng màu vỏ chanh, vỏ mỏng, phình rộng ở giữa, thon dần đều về phía 2 đầu; ở đầu hơi nhỏ hơn, có nắp trứng. Phôi bào phân bố đều, xếp kín vỏ trứng. Ranh giới giữa các phôi bào không rõ ràng.

– Vòng đời:

Sán trưởng thành ký sinh ở ruột non lợn. Sau khi thụ tinh, sán đẻ trứng tho phân ra ngoài. Trung bình mỗi sán đẻ 15000- 18000 trứng trong một ngày. Nếu gặp điều kiện thuận tiện, sau 2- 3 tuần trứng phát triển thành miracidium. Dạng ấu trùng này thoát khỏi vỏ trứng và bơi trong nước tìm ký chủ trung gian. Nếu gặp ký chủ trung gian thích hợp, miracidium chui vào ký chủ, rụng lông biến thành Sporocyst. Sporocyst sinh sản vô tính cho media. Cũng bằng sinh sản vô tính, media lại sinh sản ra nhiều media khác và sau đó, những media này sinh ra Cercaria. Thời gian từ khi miracidium vào ký chủ trung gian tới khi hình thành cercaria chui ra khỏi ký chủ trung gian là khoảng 38 ngày. Sauk hi chui ra khỏi ký chủ trung gian, ceracaria bơi trong nước một thời gian rồi bám vào cây cỏ thủy sinh, rụng đuôi, tạo vỏ bọc xung quanh và biến thành adolescarin, nếu người, lợn nuốt phải adolescari này, vào ruột vỏ bọc ngoài bị phân hủy, ấu trùng được giải phóng và phát triển dạng trưởng thành, sau 3 tháng lại tiếp tục đẻ trứng và có thể sống ở lợn 2 năm, ở người 4,5 năm.

– Triệu chứng:

Lợn nhiễm bệnh ăn uống thất thường, gầy còm, thủy thũng, ỉa chảy, lông xù, chậm lớn.

– Chẩn đoán:

Súc vật còn sống: xét nghiệm bằng phương pháp giội rửa nhiều lần để tìm trứng F.buski. Ngoài ra có thể dung phương pháp chẩn đoán miễn dịch: Lấy kháng nguyên tiêm vào nội bì, căn cứ vào phản ứng nơi tiêm để phát hiện bệnh.

Súc vât chết: Dùng phương pháp mổ khám giun sán để tìm F.buski ở trong ruột và những cơ quan khác.

– Biện pháp phòng trừ: Cần tập trung giải quyết 2 khâu chính:

Tẩy trừ sán trong cơ thể súc vật.

Diệt trừ căn bệnh trong môi trường bên ngoài.

Hai khâu trên phải gắn chặt và hỗ trợ cho nhau.

Thời gian tẩy tốt nhất là trước lúc sán trưởng thành, chưa kịp đẻ trứng. Thuốc tẩy được dùng phổ biến là Dipterex, nên tẩy 3 lần/ năm vào những tháng 9, 12, 3. Ngoài ra có thể dung Tetraclorun cacbon với liều 0,15- 0,2 ml/kg thể trọng.

Xử lý phân để diệt trứng: hàng ngày phải dọn phân và ủ.

Diệt trừ ký chủ trung gian.

Dùng vôi bột ( Cao), sunfat đồng… một số loại phân hóa học sunfat amon, sunfat kali.
Nuôi những con vật ăn ốc hoặc luân phiên trồng cây thức ăn.
Cho súc vật ăn no, đủ chất: cách tốt nhất là thức ăn phải nấu chin hoặc xử lý đảm bảo không còn adolesearia.

Xem thêm:

Bệnh sán dây moniezia ở gia súc nhai lại

Bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus

Bệnh giun đũa bê nghé do neoascaris vitulorum

Bệnh giun đũa ở Gà

 

Sán lá sinh sản gia cầm do Prosthogominus:

– Hình thái căn bệnh:

Prosthogominus cuneatus có hình quả lê, thon ở phía trước, phình rộng phía sau, có gai nhỏ phủ trên bề mặt thân, dài 4,9- 6,5 mm, rộng 2,9- 4,5 mm, đường kính giác miệng 0,329- 0,615 mm, đường kính giác bụng 0,736- 0,943 mm. Hầu nhỏ. Thực quản ngắn. Tinh hoàn hình tròn. Xếp đối xứng 2 bên thân sán. Túi sinh dục ở phía trước giác bụng. Lỗ sinh sản đực và cái ở ngay bên phải giác miệng. Buồng trứng phân thùy, hình hoa nằm ngay sau giác bụng ( ở mép cuối). Tuyến noãn hoàng hình chùm, phân bố ở 2 bên thân sán từ ngay mép trước giác bụng đến ngang mép sau tinh hoàn. Tử cung cuộn thành những nút sau giác bụng. Phía trước giác bụng, tử cung chỉ là 1 ống thẳng kép dài đến gần túi sinh dục và thông với lỗ sinh dục cái.

Trứng nhỏ, vỏ dày, kích thước 0,025- 0,028 mm * 0,014-0,016 mm.

Prosthogominus indicus dài 4,48- 8 mm, rộng 2,8 mm. Giác bụng lớn hơn 2 lần giác miệng, túi sinh dục không kéo dài tới giác bụng. Tuyến noãn hoàng bắt
đầu từ mức ngang phía trên giác bụng kéo dài tới phía sau tinh hoàn, gồm 7- 9 cụm. Tử cung xếp kín phía sau tinh hoàn. Kích thước trứng 0,019- 0,021 mm * 0,11- 0,015 mm.

-Vòng đời :

Prosthogominus cuneatus ký sinh trong ống dẫn trứng hoặc từ Fabricius thường xuyên đẻ trứng. Trứng sán theo phân ra môi trường bên ngoài. Gặp nước và môi trường thích hợp, trong trứng hình thành miracidium. Dưới tác dụng của ánh sáng, miracidium thoát khỏi vỏ trứng và bơi trong nước nhờ lông nhỏ phủ quanh thân. Nếu gặp ký chủ trung gian thích hợp, miracidium xâm nhập vào gan và biến thành sporocyst trong cơ thể ký chủ trung gian. Ở nhiệt độ 25- 27 độ C, sau 15 ngày cercaria được hình thành và chui khổi ký chủ trung gian, bơi tự do trong nước.Thời gian hoạt động của ceracia thường không quá 1 ngày đêm. Trong thời gian nầy cần được ký chủ bổ sung nuốt và là các dạng ấu trùng chuồn chuồn. Khi vào ruột, ceraria mất đuôi, tiếp tục xâm nhập vào cơ bụng, cơ ngực, đầu và ở đó hình thành metaceracia. Khi ấu trùng chuồn chuồn phát triển thành dạng trưởng thành, metacercaria tiếp tục tồn tại. Nếu gà, vịt, ngan, ngỗng ăn phải ấu trùng hoặc dạng trưởng thành của chuồn chuồn có metacercaria vào đến ruột được tiêu hóa. Metacercaria xâm nhập vào ống dẫn trứng hoặc từ Fabricius. Sau khoảng 2 tuần, metacercaria biến thành dạng trưởng thành và lại tiếp tục đẻ trứng.

– Triệu chứng: Quá trình diễn biến của bệnh ở gà có thể chia làm 3 thời kỳ :

Thời kỳ 1 : Con vật vẫn ăn uống, đi lại bình thường. Thành phần và độ to nhỏ của trứng chưa thay đổi nhưng bắt đầu thấy vỏ trứng mềm, dễ vỡ, khả năng đẻ trứng giảm. Sau đó, gà gầy yếu, đẻ trứng không có vỏ vôi, trứng chỉ được bao phủ bằng lớp màng dưới vỏ vôi. Đôi khi trứng chưa kịp đẻ đã vỡ nên chỉ thấy lòng đỏ và lòng trắng chảy ra ở huyệt. Tiếp theo là con vật khó đẻ hoặc không đẻ. Thời kỳ này kéo dài gần 1 tháng.

Thời kỳ 2 : Con vật có biểu hiện ốm rõ rệt, ăn ít, rụng lông, ủ rũ, gầy yếu, hay nấp ở góc tường, vươn dài cổ để ngớp không khí, bụng to, đi đứng không thăng bằng, vào ổ nằm lâu nhưng không đẻ. Lỗ huyệt đôi khi lòi ra vỏ mềm, bẹp hoặc chảy ra những dịch thể đặc, quánh có chất vôi. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1 tuần.

Thời kỳ 3 : Nhiệt độ thân thể tăng. Lông bị rối, khát nước, dáng đi chậm chạp từng bước, ỉa chảy, lỗ huyệt lõm vào. Mép hậu môn đỏ đậm. Quanh lỗ huyệt và phần cuối của bụng không còn lông. Thời kỳ này kéo dài 2- 7 ngày, con vật thường bị chết.

– Bệnh tích : 

Biểu hiện rõ là viêm ống dẫn trứng, niêm mạc ống dẫn trứng tơi, xốp, rất dày, có sán màu hồng đỏ, sung huyết toàn phần hoặc 1 phần ống dẫn trứng phía gần huyệt. Đôi hi ống dẫn trứng bị viêm, chảy máu. Khi nặng, tổ chức của ống dẫn trứng bị teo hoặc đứt ống dẫn trứng.

Viêm phúc mạc. Bụng to, bên trong chứa dịch nhờn và có mủ, có khi thấy những ảnh noãn hoàng to nhỏ khác nhau nổi trong dịch này. Màng bụng, màng treo ruột xung huyết. Đôi khi thấy viêm phúc mạc không có dịch rỉ viêm.

– Chẩn đoán :

Với sục vật còn sống, tiến hành xét nghiệm phân để tìm trứng.

Với súc vật chết, dùng phương pháp mổ khám để tìm sán.

– Điều trị :

Với gà dùng CCl4, liều 2- 5ml/gà, cho uống qua ống cao su hoặc tiêm thẳng vào diều. Ngoài ra còn dùng C6Cl5 liều 0,5g/l trộn với thức ăn 1 lần/ ngày và 3 ngày liền.

– Phòng bệnh :

Không chăn thả gia cầm và làm chuồng nuôi ở gần ao hồ. Nên thả gia cầm sau khi mặt trời mọc để giảm nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh. Đối với những gia cầm mang sán và bị bệnh cần phải định kỳ điều trị.

Sán lá ruột gia cầm do Echinostoma:

– Hình thái căn bệnh :

Echinostoma revolutum thân dài 9- 13 mm, rộng 0,88-2 mm, phần trước thân có vẩy citicun. Đầu sán hình vành khăn, đường kính 0,44- 0,825 mm, vành khăn có 35- 37 móc nhỏ. Giác miệng khá lớn, kích thước 0,138- 0,341 mm* 0,198- 0,358 mm. Giác bụng có dạng tròn, kích thước 0,68- 1,32 mm* 0,71- 1,84 mm, có xoang hình cầu ở giữa. Hai manh tràng không phân nhánh, xếp dọc 2 bên thân sán kéo dài tới cuối thân. Tinh hoàn hình khối tròn hoặc hình trứng xếp trên dưới ở nửa sau thân. Túi sinh dục hình ống ở giữa giác bụng và nơi ruột phân nhánh. Buồng trứng hình khối tròn nằm sau giác bụng. Tuyến noãn hoàng phân bố dọc 2 bên thân. Tử cung khá dài, chứa nhiều trứng. Trứng hình bầu dục, màu vàng, 1 đầu trứng có nắp.

– Vòng đời : 

Sán trưởng thành ký sinh ở ruột ký chủ, thường xuyên thải trứng theo trướng ra ngoài. Gặp điều kiện thích hợp, sau 12- 17 ngày, miracidium hình thành trong trứng, thoát vỏ ra ngoài và bơi tự do trong nước (vài giờ). Nếu gặp ký chủ trung gian thích hợp, miracidium chui vào ký chủ trung gian, tiếp tục biến đổi thành sporocyst. BẰng sinh sản vô tính, sporocyst sinh sản ra nhiều redia. Redia lại sinh ra nhiều cercaria, cercaria chui ra khỏi ký chủ trung gian bơi tự do trong nước khoảng 10- 12 giờ. Trong thời gian này nếu gặp ký chủ bổ sung là ốc và nòng nọc nước ngọt, ceracaria tiếp tục xâm nhập vào cơ thể chúng, sau đó rụng đuôi, tạo vỏ bọc xung quanh và biến thành metaceracaria. Những ceracaria không gặp ký chủ bổ sung sẽ chết.

Gia cầm nhiễm sán do ăn phải ký chủ bổ sung có metacercaria hoặc nuốt phải metacercaria do nhuyễn thể thải ra. Sau khi xâm nhập vào ký chủ cuối cùng,
metacercaria tiếp tục phát triển thành sán trưởng thành và đẻ trứng sau 10- 12 ngày.

– Triệu chứng, bệnh tích :

Triệu chứng phụ thuộc vào cường độ nhiễm sán, tuổi, trạng thái cơ thể, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con vật.

Khi con vật nhiễm sán với cường độ cao, biểu hiện : yếu toàn thân, ỉa chảy kiệt sức nhanh, ngừng sinh trưởng phát triển. Khi suy mòn, con vật bị chết.
Do giác bám và gai citicun trên thân sán kích thích niêm mạc ruột gây viêm, chảy máu, viêm cata ở từng vùng ruột.

– Chẩn đoán :

Con vật còn sống : Xét nghiệm phân tìm sán.

Con vật chết : Mổ khám tìm sán trưởng thành hoặc dựa trên bệnh tích : viêm chảy máu và viêm cata ở từng vùng của ruột non và ruột già.

– Điều trị :

Dùng thuốc CCl4 liều 2- 4ml/ con vật bằng cách tiêm qua diều hoặc cho uống qua ống cao su. Arecolin liều 0,002g/kg thể trọng pha dưới dạng dung dịch
nồng độ 1 : 1000, cho thuốc riêng từng con. Filixan liều 0,3- 0,4 g/ kg thể trọng cho cùng thức ăn.

– Phòng bệnh :

Định kỳ diệt sạch sán trong cơ thể gia súc bằng cách tẩy trừ. Tiêu diệt trứng sán thoát ra ngoài bằng cách ủ phân. Diệt ký chủ trung gian, ký chủ bổ sung ở khu vực chăn tha gia cầm. Nuôi riêng gia cầm non với gia cầm trưởng thành. Ở những nơi có nhiều mầm bệnh, gia cầm non phải được nuôi đến 2- 3 tháng tuổi trên những sân khô ráo. Không để trại chăn nuôi gia cầm gần ao hồ. Cho gia cầm ăn no, đủ chất.

Sán dây loài gia cầm do Raillietina:

– Hình thái :

+ R.echinobothrida : Hình dải băng, dài 25 cm, rộng 1,4 mm, 4 giác bám hình tròn, trên giác bám có 8- 10 hàng móc nhỏ. Đỉnh đầu có 200 móc xếp 2 hàng,
lỗ sinh dục ở bên đốt sán. Có 20- 30 tinh hoàn ở giữa đốt sán. Túi dương vật tương đối to, dài 00,13- 0,18 mm. Buồng trứng ở giữa đốt, tuyến noãn hoàng ở sau buồng trứng, mỗi túi 6- 12 trứng.

R.tetragona : Đầu tròn, đỉnh đầu có 90- 130 móc xếp thành 2 hàng. Có 4 giác bám hình bầu dục, trên giác có 8- 12 hàng móc. Lỗ sinh dục đổ ra 1 bên của
đốt sán. Ở đốt trưởng thành có 18- 32 tinh hoàn ở giữa đốt sán. Túi đựng dương vật dài 0,075- 0,1 mm, hình lê. Tử cung gồm nhiều túi trứng, mỗi túi có 6- 12 trứng, phôi 6 móc nằm trong trứng sán.

+ R.cesticillus : Đỉnh đầu có hình khối bán cầu, có nhiều móc ( 100- 500 móc) xếp 2 hàng. Trên giac sbams không có móc. CÓ 15- 30 tinh hoàn. Lỗ sinh dục thông ra bên phải có khi bên trái đốt sán. Tử cung có nhiều túi trứng, đường kính của thai 6 móc 0,03- 0,0325 mm, đường kính trứng 0,05- 0,09 mm.

+ Davainea proglostian : Sán chỉ có 4- 9 đốt, dài 0,5- 3mm, rộng 0,18- 0,6 mm. Đầu nhỏ, trên mõm có 60- 90 móc. Trên giác bám cũng có móc. Lỗ sinh dục
ở nửa trước đốt sán. Túi dương vật tương đối dài, bằng 2/3 chiều ngang đốt sán. Có 12- 15 tinh hoàn, xếp 2 hàng ở nửa sau đốt sán. Trứng sán rải rác
trong đốt, đường kính trứng 0,035- 0,04 mm.

– Vòng đời :

R.echinobothrida,R.tetragona cần kiến làm ký chủ trung gian. Đốt sán rụng cùng phân ra ngoài, trứng sán phân tán, kiến ăn phải, vỏ trứng bị phân hủy ở ruột kiến, thai 6 móc chui vào cơ thể kiến tiếp tục phát triển thành ấu trùng cysticercoid. Gà ăn kiến có mang ấu trùng này vào đường tiêu hóa, kiến bị phân hủy, ấu trùng chui vào ruột và dùng giác hút bám vào niêm mạc ruột. Hoàn thành vòng đời cần 19- 23 ngày.

R.cesticillus Những côn trùng bộ cánh cứng tham gia vào vào quá trình phát triển của sán này.

Mùa hè, sau 14- 16 ngày, trứng phát triển thành ấu trùng cysticercoid. Nếu nhiệt độ thấp, cần 66 ngày trứng mới thành ấu trùng gây bệnh. Gà ăn phải côn trùng cánh cứng chứa cyscercoid sẽ mắc bệnh. Trong cơ thể gà mất 13- 20 ngày để ấu trùng phát triển đến trưởng thành.

D.proglostina. Cần ký chủ trung gian là nhuyễn thể ở cạn Limax, Arion…

Đốt sán chửa rụng theo phân ra ngoài, trứng sán phân tán, nhuyễn thể nuốt phải, sau 20- 22 ngày thành cyticercoid. Gà ăn phải nhuyễn thể mang ấu trùng này sẽ bị bệnh. Sau 14- 16 ngày, ấu trùng phát triển thành sán trong cơ thể gà.

– Triệu chứng lâm sàng :

Khi gà nhiễm nặng, con vật gầy, rối loạn tiêu hóa, kiết lỵ, có khi táo bón. Ăn ít, khát nước, mệt mỏi, cánh rũ, hồng cầu, huyết sắc tố giảm, niêm mạc nhợt màu vàng, đẻ ít hoặc không đẻ.

– Thương tổn cơ thể bệnh học :

Con vật gầy, niêm mạc ruột dày lên, ruột có nhiều dịch nhầy mùi thối, niêm mạc thiếu máu. Sán trưởng thành bám sâu vào niêm mạc ruột gây viêm, mạch máu bị phá vỡ và tụ huyết.

– Chẩn đoán :

Khi còn sống dựa vào triệu chứng lâm sàng kết hợp với kiểm tra phân bằng gạn rửa sa lắng tìm đốt sán. Ngoài ra có thể mổ khám con chết hoặc con nghi có bệnh để tìm sán.

– Điều trị: Có thể dùng một số loại thuốc sau :

Arecolin : Pha thành nồng độ 0,1 %, liều dùng 0,003g/kg trọng lượng, cho thuốc vào thực quản bằng ống cao su.

Hexachlorophen, liều 50- 100 mg/kg thể trọng, hiệu quả đạt trên 90 % nhưng sau khi uống thuốc 3- 7 ngày sản lương trứng giảm.

Có thể dùng hỗn hợp 3 loại thuốc Hexachlorophen 50mg, Phenothiazin 60 mg, Nicotin 50 mg cho 1 kg trọng lượng. Ngoài ra còn dùng Dichlorophen.

Devermin 250 mg/kg cho qua miệng, hoặc Mebenvet 500mg trộn với 1 kg thức ăn, cho ăn 3 ngày liền.

– Phòng bệnh :

Cách ly gà con với gà trưởng thành. Nuôi gà con ở chuồng trại, sân chơi sạch sẽ.

Giữ vệ sinh chuồng trại, tập trung phân để ủ, diệt ký chủ trung gian, định kỳ sát trùng, làm vệ sinh chuồng trại.

Định kỳ tẩy sán cho gà.

Giun đũa lợn do Ascaris Suum:

Bệnh do Ascaris Suum ký sinh ở ruột non lợn. Giun màu trắng sữa, hình ống, hai đầu thót nhọn. Giun đực dài 10,5- 20 cm có 2 gai giao cấu bằng nhau dài 1,2- 2 mm. Giun cái dài 23- 30 cm. Lỗ sinh dục cái ở 1/3 phía trước cơ thể.

Đầu giun có 3 môi bao quanh miệng gồm 1 môi lưng và 2 môi bên. Trứng có kích thước 0,050- 0,075 mm*0,040- 0,050 mm, vỏ dày gồm 4 lớp. Lớp vỏ ngoài màu vàng sẫm, xù xì gợn song; 2 lớp giữa là những màng bản thấm; lớp trong cùng là Lipoid và hợp chất hữu cơ.

Vòng đời:

Giun đũa lợn phát triển trực tiếp không cần vật chủ trung gian. Giun trưởng thành ở ruột non lợn, thụ tinh, đẻ trứng ( khoảng 200000 trứng/ ngày đêm. Cả đời 1 gin cái có thể đẻ 27.000.000 trứng. Trứng theo phân ra ngoài. Nếu gặp độ ẩm thích hợp chỉ sau 2- 3 tuần phát triển thành ấu trùng gây nhiễm.

Khi lợn nuốt phải, ấu trùng thoát vỏ trứng, xuyên qua thành ruột theo hệ tuần hoàn vào gan. Sau 4- 5 ngày ấu trùng tới phổi, tiến hành lột xác và từ phế nang vào khí quản, cùng với niêm dịch, ấu trùng lên hầu và lại được nuốt vào đường tiêu hóa, khi đến ruột non, ấu trùng lột xác lần cuối để thành giun trưởng thành, sau 1- 1/2 đến 2- 1/2tháng. Ngoài ra giun đốt Pheritima nếu nuốt phải trứng A.suum ấu trùng cũng tồn tại và có thể lây nhiễm. Khi lợn ăn phải giun đất, ấu trùng cũng di hành và phát triển thành giun trưởng thành ở ruột non lợn.

Triệu chứng:

Khi lợn nhiễm nhẹ, triệu chứng không rõ. Khi lợn nhiễm nhiều giun, lợn chậm lớn, gầy yếu, còi cọc, viêm phổi, ho , thân nhiệt tăng, hô hấp nhanh, ăn uống giảm sút, đau bụng, đôi khi có triệu chứng thần kinh, nổi mẩn.

– Bệnh tích:

Ở giai đoạn đầu phổi bị viêm, mặt phổi có đám huyết màu hồng sẫm. Trong phổi có nhiều ấu trùng. Khi có nhiều giun trong ruột non, ruột bị viêm cata. Khi ruột bị thủng, vỡ gây viêm phúc mạc.

– Chẩn đoán:

Giai đoạn lợn bị nhiễm sau 54 ngày, giun chưa đẻ trứng, việc chẩn đoán phải dựa vào triệu chứng, dung chẩn đoán bằng kháng nguyên hoặc mổ khám.

Lợn bị nhiễm sau 2 tháng, kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi (Fulleborn), Darling hoặc mổ khám tim giun ở ruột non.

Chẩn đoán bằng phản ứng biến thái nội bì.

– Điều trị: Có thể dung 1 trong các thuốc sau:

Dipterex liều 0,1g /kg thể trọng trôn với thức ăn.

Piperazin liều 0,3g /kg thể trọng, cho qua miệng, cần cho thuốc 2 lần với liều trên.

Levamozol liều 5- 10g/kg thể trọng cho qua miệng hoặc tiêm.

– Phòng trừ:

Diệt căn bệnh trong cơ thể lợn: Định kỳ tẩy giun cho lợn bị bệnh và lợn mang giun bằng 1 trong nững htuoocs trên, ủ phân để diệt trứng. Có thể ủ phân theo công thức sau: phân lợn 1000kg:lá xanh(rác) 200kg:tro bếp(vôi bột) 60kg trộn đều với lá xanh; phủ rác hoặc trát kín bằng bùn.

Bệnh sán lá gan ở loài nhai lại do Fascioia

– Hình thái căn bệnh :

Sán dài 25-75mm, rộng 3-12mm, hình lá, hai mép bên gần như song song nhau.

Không có vai phần cuối than hơi tù. Giác miệng ở phía trước than, đường kính 1,092-1,55mm. Lỗ miệng ở đáy giác miệng vafthoong với hầu vào thực quản. Ruột gồm hai manh tràng phân nhiều nhánh nhỏ. Giác bụng tròn đường kính 1,491-1,785mm.

Hệ bài tiết gồm nhiều ống nhỏ, phan nhánh va thong với hai ống chính. Hai ống này hợp lại ở cuối than rôi thong ra ngoài qua lỗ bài tiết.

Hệ sinh dịc lưỡng tính: 2 tinh hoàn phân nhánh mạnh, mỗi tinh hoàn thông với một ống dẫn tinh riêng. Những ống này hợp thành ống chung, đổ vào túi sinh dục. Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinh hoàn. Tử cung uốn khúc thành hình hoa ở phía ống dẫn noãn hoàng và giác bụng. tuyến noãn hoàng xếp dọc hai bên than, và phân nhánh gần như khung của sán Fasciola gigantica có khả năng tự thụ tinh va thụ tinh chéo.

Trứng hình bầu dục phình rộng ở giữa, thon dần về phía hai đầu. Đầu hơi nhỏ hơn có nắp trứng. Vỏ trứng mỏng gồm 4 lớp. Lớp ngoài phẳng

Phần đầu hình nón dài 3-4mm chứa cả hai giác bám. Giác bụng lớn hơn giác miệng. phía trước than phình to vathon nhỏ dần về cuối thân sán nên tạo thành vai. Bao bọc bên ngoài sán là lớp cơ. Lớp này gồm 2 phần: phần ngoài là thể hợp bào không có nhân; màng ngoài của màng này là nguyên sinh chất đông đặc lại. Dưới màng này là tế bào chất chứa không bào, những hạt nhỏ vat y lạp thể

Phần bên trong là những tế bào hình lê, có nhánh tế bào chất liên hệ với phần ngoài qua màng đáy. Dưới màng đáy là lopws gian bào, có những lớp cơ vòng, cơ dọc nằm tròng lớp này.

– Vòng đời

Fascioln trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê, cừu, va  một số súc vật khác. Sauk hi thụ tinh mỗi sán đẻ hang chục vạn trứng. Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó tiếp tục theo phân ra ngoài. Sau 10-15 ngày trong trứng hình thành miracidium. Dưới tác động của ánh sang Miracidium đẩy bật nắp trứng chui ra ngoài và bơi tự do trong nước. Nếu thiếu ánh sáng miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn có khả năng tồn tại đến 8 tháng trong vỏ trứng. Những miracidium bơi lội ở bên ngoài nếu gặp ký chủ trung gian là những ốc Limnaca auricularia, Limnaen viridian, Galba trâcbula chui vào cơ thể ốc , di chuyển vào gan, mất long và phát triển thành Sporocyst. Sporocyst dài 0,15mm, ình túi, chúa nhiều tế bào phôi. Những tế bào phôi này to dần, sau 15-30 ngày phát triển thành Redia. Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu ruột hình túi đơn giản, chứa nhiều tế bao mầm. sporocyst và chui ra nooin tạng của ốc. bằng lối sinh sản vô tính mỗi Sporocyst sinh ra 5-15redia. Mỗi redia lại sinh ra nhiều redia con. Sau 32-40 nagyf ấu trùng dài tới 1mm và có thể sinh ra 15-20 cercaria. Cercearia gần giống nòng nọc, kích thước nhỏ, đuôi dài, có giác miệng, giác bụng và hầu, thực quản và ruột phân thành hai manh tràng. Từ khi miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thanh cercaria cần khoảng 50-80 ngày. Sauk hi thành thục, cercaria qua miệng ốc ra môi trường ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28-0,3mm chiều dài và 1,23mm chiều rộng. Mỗi ốc có thể nhiễm tới 600-800 cercaria. Sau vài giờ bơi lội trong nước, cercaria rụng đuôi va tiết ra nhiều chất nhờn màu nâu hung. Lúc này cercaria hoàn toàn biến thành adolescaria, Adolescaria hình khối tròn có 4 lớp vỏ, bên trong chứa phôi hoạt động. Adlescaria thường ở trong nước hoặc bám ở những cây cỏ, quanh những vùng lầy lội, ẩm thấp, những vùng nước trên đồng cỏ. Nếu trâu bò, dê, cừu… nuốt phải adlescaria, ở trong ống tiêu hóa lớp vỏ ngoài bị phân hủy, ấu trùng bên trong được giải phóng và chuyển đến ống dẫn mật bằng hai cách:

+ Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột vào tĩnh mạch ruột, tĩnh mạch cửa, di chuyển vào gan, xuyên qua nhu mô gan vào ống dẫn
mật.

+ Một số ấu trùng khác xuyên qua thành ruột vào xoang bụng, đén gan, xuyên qua vỏ gan vào ống dẫn mật.

Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng phát triển thành dạng trưởng thành lại tiếp tục đẻ trứng.

Từ khi adolescaria được súc vật nuốt vào đến khi phát triển thành sán trưởng thành, cần thời gian 3-4 tháng.

Fasciola trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của súc vật 3-5 năm, có khi tới 11 năm.

– Triệu chứng

Biểu hiện ở hai thể cấp tính va mãn tính

Ở trâu bò 1,5-2 năm tuổi, bệnh thường phát triển ở thể cấp tính, con vật dễ chết. Trâu bò trưởng thành, triệu chứng của bệnh không rõ, bệnh thường ở
dạng mãn tính .

+ Thể cấp tính ít xảy ra, thường gặp ở giai đoạn sán non di hành trong cơ thể khi nuôi dưỡng thiếu về số lượng, chất lượng, thiếu vitamin và canxi.

Biểu hiện: Con vật suy nhược, kém ăn, ỉa chảy, chương bungj, miệng hôi, sốt, gan sưng to va đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng thần kinh quay cuồng , kiệt sức. Con vật có thể chét do xuất huyết nặng, trúng độc, suy nhược toàn thân.

+ Thể mãn tính: phổ biến ở trâu bò, dê, cừu trưởng thành được nuôi dưỡng tốt va sán đã ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống mật với số lượng ít. Triệu chứng thể mãn tính xuất hiện sau thể cấp tính ½ đến 1 tháng.

Biểu hiện : Con vật suy nhược, ăn ít, chóng mặt, niêm mặc nhợt nhạt, lông mốc xù xì, dễ nhổ nhất là vùng dcj hai bên sườn và dọc xương ứ. Con vật nhai lại yếu khát nước, ỉa chảy xen kẽ, táo bón, gầy dần.Khi khám thấy gan to và đau. Con vật ho. Bo cái dễ sảy thai vì lượng canxi trong máu quá thấp. Lượng sữa có thể giảm 50%. Đôi khi triệu chứng thần kinh như quay cuồng. Nếu bệnh không được chữa, con vạt thường bị chết do kiệt sức.

– Bệnh tích

Tùy theo mức độ nhiễm sán, bệnh tích có khác nhau: súc vật nhiễm nhiều sán thường thấy viêm gan cấp tính, gan sưng màu nâu sẫm, xung huyết. Lớp thành mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết. Khi nhiễm nặng viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc nhợt nhạt.

Sau 2-3 tháng cảm nhiễm, xuất hiện viêm gan mãn tính. Những nơi mô gan bị hủy có những xẹo màu vàng xám. Gan xơ cứng, niêm mạc ống dẫn mật dày lên do nhu mô liên kết tăng sinh. Thành ống mật có hiện tượng canxi hóa, toàn bộ hệ thống ống dẫn như những dây xơ cuwngsvaf ngoằng ngoèo trên mặt gan. Tiết diện của ống dẫn rộng chúa đầy dịch màu nâu và Fasciola; đôi khi chứa lẫn mủ và máu. Kiểm tra bằng kính hiển vi thấy: Liên mạc ống mật bị thoái hóa, niêm mạc tăng sinh thành: những u. trong u có bạch cầu, nguyên bào, lâm ba cầu, bạch cầu ái toan, các thực bào chứa đầy sắc tố mật và máu. Những lớp sâu hơn của ống mật cũng viêm tăng sinhvif quá trình này lan tới tổ chức giữa thủy gan và lớp thành mạc quanh gan. Tổ chức liên kết giữa thủy gan tăng sinh rõ rệt va lan vào các thủy khác làm tan biến tổ chức gan. Khi nhiễm sán nhẹ, bệnh tích ở ống dẫn mật và bề mặt gan không thấy rõ. Khi nhiễm sán nặng,: Trâu, bò, dê, cừu gầy rạc, máu loãng, bị thấm ướt huyết thanh va nhão. Thịt mau xám, xoang bụng, xang ngực, xoang bao tim tích dịch phu trong suốt.

Ngoài gan và mật, sán con thấy ở cả phổi gia súc lớn, sns nay có màu sắc bình thường ở trong những bọc bằng hạt dẻ hoặc bằng trứng gà, trong chứa dịch màu nâu sẫm, và chứa khoảng 1-2 sán.

Fasciala còn có khả năng ký sinh trong thai súc vật có chứa do di hành theo đường tuần hoàn.

– Chẩn đoán

Với súc vật còn sống, việc chẩn đoán thường dùng.

+ Dựa vào triệu chứng của bệnh . Con vật bị bệnh Fasciola thường bị kiệt sức, suy mòn phù lạnh khoảng gian hàm, ngực, rụng lông…

+ Căn cứ vào dẫn liệu dịch lễ học của bệnh

+ Xét nghiệm phân của súc vật bằng phương pháp gạn rửa nhiều lần qua lưới lọc hoặc bình lọc để phát hiện trứng Fasciola.

+ Chẩn đoán bằng kháng nguyên: dùng kháng nguyên tiêm vào nội bì, căn cứ vào phản ứng nơi tiêm để phát hiện bệnh

Với súc vật chết, mổ khám tìm Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và trưởng thành trong ống mật, gan, xoang bụng và những nơi khác. Phương pháp này chính xác hơn cả.

– Điều trị

+ Thuốc thường dùng hiện nay như: Tetrnclorun cacbon, hễn lorelan, Bithionol, hexaccloropacilion. Với Trâu dùng 0,1ml/kg P bằng cách tiêm thẳng vào dạ dày cỏ hoặc thuốc được pha lẫn với Parafin, vazoliny tế hoặc dầu thảo mộc và tiêm vào bắp.

+ hetol (1,4- bistri lorometilobenzol) mới được áp dụng điều trị cho cừu và gia súc lớn từ năm 1960. Thuốc cho qua đường miệng với liều 8g/50kg thể trọng. Thuốc dùng được cho gia súc có chửa và không cần nhịn đói. Thuốc không gây ngộ độc nhưng không có tác dụng đối với sán non. Hiệu lực thuốc đạt 60-100%.

+ Hexaclorofen-2,2 metilen-bí (3,4,6- Triclofenol). Cho uống với liều 17mg?kg thể trọng, không dùng cho bò chửa từ tháng thứ 7 trở đi, hiệu lực 70-100%, thuốc này tác dụng với cả sán non.

– Phòng bệnh

Muốn phòng ngừa có hiệu quả, cần biết chu trình phát triển, tình hình tễ của bệnh, sinh thái của ký chủ trung gian, trên cơ sở đó để ra biện pháp phòng ngừa tổng hợp gồm:

+ Định kỳ tẩy trừ sán cho súc vật để ngăn chặn mầm bệnh gieo rắc rộng và phòng ngừa cho gia súc tái nhiễm.

Hàng năm nên tẩy sans toan đàn ít nhất là 2 lần.lần thứ nhất vào mùa xuân, lần thứ hai vào mùa thu.

+ Ủ phân theo phương pháp sinh vật học để lợi dụng nhiệt tiêu diệt trứng

+ Xử lý các cơ quan nhiễm sán, nếu gan bị nhiễm sán thì phải được giữ lại, nấu chin cho lợn hoặc gia súc khác ăn

+ Diệt ký chủ trung gian: tháo cạn nước những đồng cỏ , chăn lầy lội, ảm ướt…Dùng những chất có khả năng dieeetj ốc (vôi bột, sunfat đông) . Phát triển nuôi những súc vật ăn ký chủ trung gian như : vịt ngan, ngỗng, các trắm.

+ Vệ sinh thức ăn, nước uống: Không chăn thả súc vật ở những bãi chăn lầy lội, ăm thấp.

+ tránh nhập súc vật từ những vùng có bệnh, khi chưa kiểm tra và điều trị triệt để.

Bệnh sán lá dạ cỏ do Paramphistomatata.

– Hình thái:

Paramphistomum cervi có hình khối chop dài 5-12mm màu hồng nhạt, có hai giác bám: giác miệng ở đầu sán, giác bụng lợn hơn giác miệng và ở cuối thân sán. Lỗ miệng nằm ở đấy giác miệng. Hầu phát triển. Thực quản ngắn. hai manh tràng uốn cong không phân nhánh. Hai tinh hoàn hình khối phân thùy xếp trên dưới nhau ở phần sau của sán. Buồng trứng hình khối tròn ở giữa tinh hoàn và giác bụng. Tuyến noãn hoàng hình chum nho, phân bố từ sau giác miệng đến giác bụng ở hai bên thân sán.

Trứng amu tro nhạt, hình trứng, ở đầu nhỏ hơn có nắp trứng, kích thước 0,11-0,16mm .

– Vòng đời: 

Sán trưởng thành thường ký sinh ở dạ dày cỏ. Sau khi thành thục sinh dục, sán đẻ trứng. Trứng theo phân ra ngoài. Nếu gặp điều kiện thuận lợi sau 11-12 ngày trưng nở ra miiracidium. Miracidium bơi trong nước tìm ký chủ trung gian. Nếu gặp ký chủ thích hợp miracidium chui vào cơ thể ốc và phát triển thành sporocyst. Bằng sinh sản vô tính, mỗi sporocyst có thể sinh ra 9 redia, mỗi redia sinh ra 20 ceraria. Do đó, từ một miracidium có thể sinh ra 180 cercaria. Qua trình này tiến hành trong cơ thể ốc và cần 52-60 ngày. Cerearia sau khi hình thành, chui ra khỏi ký chủ trung gian, bơi trong nước mtj thời gian và biến thành adolescaria trong những vũng nước và trên cây cỏ thủy sinh. Nếu súc vật nuốt phải adolescaria, trong cơ thể ấu trùng được giả phóng và di hành phức tạp , cuối cùng đến dạ cỏ và phát triển thành sán trưởng thành, lại tiếp tục đẻ trứng sau thời gian 207 ngày.

– Bệnh tích:

Bệnh tích thấy rõ là: xác chết gày còm, niêm mạc nhợt nhạt, ccos những vết loét nông ở môi và mũi. Dạ cỏ có nhiều sán. . Niêm mạc, dạ cỏ, dạ múi khế, tá tràng và ruột bị viêm cata hay xuát huyết. Trong dịch rỉ viêm có nhiều sán non , có khi thấy sán non ở dưới niêm mạc tá tràng, dạ múi khế, dạ cỏ, và cả hệ thống lâm ba ruột. Niêm mạc dễ tách ra khỏi thành ruột . tuyến ruột bị biến đổi, đôi khi bị phá hủy toàn bộ. mạch máu và mạch lâm ba dãn ra. Thành dạ múi khé và tá tràng bị phù. Ở hạch lâm ba ruột có những biến đổi thoái hóa. Niêm mạc của dạ mũi khế và tá tràng bị sừng hóa và thấm xuất tế bào, túi mật to ra, mật màu vàng nhạt. Gan xung huyết. lách cứng và khô. Tim dãn to, vách tâm nhic bị thâm nhiễm. Cơ tim nhão, đôi khi thấy xuất huyêt ở tim.

– Triệu trứng:

Do ấu trùng sau khi xâm nhập vào cơ thể, tiếp tục di hành và cư trú trong các cơ quan , làm cho súc vật mệt mỏi, sau vài ngày xuaatd hiện ỉa chảy, gày còm. Đuôi, quanh chân sau dính phân lỏng. Niêm mạc ở mũi, mắt, xoang miệng hơi nhạt. Mũi loét. Nhiệt độ cơ thể bình thường. Sau 7-10 ngày có khi nhiệt độ tăng tới 40-40,5C. Thủy thũng ở vùng dưới vú và vùng gian hàm. Khi ỉa cahyr nặng trong phân có máu, chất nhày mùi thối. lông xù dễ rụng. Mắt sâu, trũng , lờ đờ. Dạ cỏ bị liệt. Đau bụng. Nghiến răng. Khi cảm nhiễm nặng, con vật ngày càng gầy yếu trầm trọng rồi chếtsau từ 5 dến 30 ngày.

Những súc vật nuôi tốt, cảm nhiễm nhẹ, bệnh kéo dài đến 3-4 tuần, sau đó khỏi triệu chứng mất dần.

Trong thời gian bị bệnh, hồng cầu giảm, bạch cầu trung tính tăngđồng thời nhân chuyển về bên trái. Bạch cầu ưa axit va limphoxit tăng. Hồng cầu không
đều nhau, tăng hồng cầu nhiễu hình.

Bệnh ở dạng mãn tính hoặc do sán trưởng thành gây ra thường biểu hiện: Con vật gầy còm dần, kém ăn, ỉa chảy liên tục, thủy thũng ở vùng gian hàm và
dưới vú. Niêm mạc nhợt nhạt. Nhiệt độ thân thể bình thường.

– Chẩn đoán:

Với súc vật còn sống, dựa vào triệu chứng lâm sang hoặc dựa vào xét nghiệm phân bằng phương pháp gạn rửa sa lắng để tìm trứng sán

Với súc vật chết, mổ khám tìm sán trưởng thành và sán non và dựa vào bệnh tích để kết luận.

– Điều trị:

Điều trị bệnh này cho trâu, bò, có thể dùng Hexacloretan liều 0,2-0,4g/kg thể trọng, cho uống một lần. hiện nay có thể dùng Benzimidazol. Ngoài ra có thể điều trị bằng Bithionol, Hexachlorophen, Resorantel.

– Phòng ngừa:

Những biện pháp chủ yếu là:

Làm khô ráo những vùng lầy lội trên đồng cỏ, bãi chăn, cải tạo đất, làm cho ký chủ trung gian không thể tồn tại được.

Nuôi vịt ngan, ngỗng, và những thủy cầm khác để diệt ký chủ trung gian

Tổ chức diệt ký chủ trung gian bằng những chất hóa học (CuSO4, CaO…)Không chăn thả gia súc ở những bãi chăn ẩm thấp, lầy lội có ký chủ trung gian.

Định kỳ tẩy giun sán cho toàn đàn

Ủ phân theo phương pháp sinh vật học để diệt trứng trong phân.