Thay đổi của nước tiểu trong bệnh thận ở gia súc gia cầm

Thay đổi về số lượng nước tiểu

– Các bệnh lý ở thận có thể gây ra những thay đổi về số lượng nước tiểu khác nhau như: tăng, giảm hoặc không có nước tiểu (thường gọi là: đa niệu, thiểu niệu, vô niệu).

a. Đa niệu: là khi lượng nước tiểu quá nhiều trong khi lượng nước vào cơ thể bình thường.

– Cơ chế là do tăng lọc ở cầu thận hoặc do giảm tái hấp thu ở ống thận.
– Có thể gặp đa niệu trong một số bệnh như:

+ Viêm thận cấp giai đoạn đầu, khi mới có xung huyết do phản ứng viêm, chưa tổn thương thực thể, khi đó máu đến cầu thận nhiều làm áp lực lọc tăng.
+ Xơ thận, do tổ chức xơ phát triển xung quanh ống thận làm hẹp các mạch máu, do đó ống thận làm giảm khả năng tái hấp thu.
+ Huyết áp cao cũng có tác dụng làm tăng áp lực lọc ở cầu thận.
+ Do những nguyên nhân ngoài thận như: ăn uống quá nhiều nước, ăn các loại thức ăn có nhiều nước, thức ăn giàu Kali, dùng thuốc lợi niệu, thời tiết chuyển lạnh, đườnghuyết cao,…

b. Thiểu niệu: lượng nước tiểu giảm dưới mức bình thường mà không phải do nguyên nhân nào làm mất nước hoặc do cung cấp thiếu nước.

– Là triệu chứng điển hình hay gặp đối với những bệnh có tổn thương tổ chức thận như viêm cầu thận, viêm ống thận, thận hư,… cơ chế ở đây là giảm lọc cầu thận nhưng ống thận vẫn tái hấp thu bình thường hoặc giảm lọc ở cầu thận kết hợp với tăng tái hấp thu ở ống thận.

– Mức độ thiểu niệu phụ thuộc vào mức độ rối loạn chức năng của cầu thận và ống thận.

– Thiểu niệu còn gặp trong các trường hợp: khi mất nước nặng làm giảm thể tích máu qua thận, khi suy tim gây ứ trệ tuần hoàn, khi sốc giảm huyết áp, khi tiết niệu bị cản trở, khi phù, tích nước trong các xoang,…

c. Vô niệu: khi hoàn toàn không có nước tiểu bài tiết. Biểu hiện vô niệu hay xảy ra trong viêm ống thận cấp. Về cơ chế của vô niệu trong viêm ống thận cấp được giải thích như sau:

– Do tổn thương ở ống thận làm hủy hoại lớp TB biểu mô, nước tiểu đang tiếp xúc trực tiếp với các mao mạch, do đó bị hấp thu hoàn toàn.

– Do các ống thận bị tắc bởi những tế bào bị hủy hoại và phù nề gây ứ nước tiểu và tăng áp lực ở ống thận có tác dụng đẩy nước tiểu trở lại máu (sự trở lại thụ động của phần đã được lọc).

– Do rối loạn tuần hoàn ở cầu thận

– Bất cứ nguyên nhân nào gây tổn thương ở ống thận đều gây thiếu máu ở vùng cầu thận do tình trạng co các mao mạch thận, giống như tình trạng tuần hoàn trong sốc.

Thay đổi về chất lượng nước tiểu

– Bình thường nước tiểu của GS có màu vàng nhạt, mùi khai (ngựa màu thẫm hơn, chó có mùi hắc như tỏi).

– Bình thường nước tiểu không có cặn (trừ ngựa có muối cacbonat canxi, photphat, không hòa tan nên đục) còn các loại GS khác nếu có sự vẩn đục là có sự rối loạn chức năng của thận.

– Trong nước tiểu bình thường có một số chất chính như: Clorua, photphat, sunphat, ure, axit uric, creatinin,… và một số tế bào biểu mô.

– Nước tiểu của ĐV ăn cỏ thường là kiềm tính, ở ĐV ăn tạp thường là toan tính, riêng lợn có thể kiềm cũng có thể toan.

– Khi rối loạn hoạt động của thận thì không những thành phần, tỷ trọng và tỷ lệ các chất thay đổi mà còn xuất hiện những chấy bất thường trong nước tiểu.

a. Protein niệu: bình thường các protein của huyết thanh hầu như không bị lọc vào nước tiểu. Khi xuất hiện protein niệu chứng tỏ có rối loạn cơ năng của thận.

– Cơ chế protein niệu là do màng cầu thận bị tổn thương để lọt qua protein có trọng lượng phân tử lớn.

– Cũng có thể do ống thận bị tổn thương không tái hấp thu, xảy ra với các protein có trọng lượng phân tử nhỏ.

– Đầu tiên là Albumin qua trước vì trọng lượng phân tử của nó nhỏ ( 69000 – 72000).

Sau mới đến các globulin là những phân tử lớn hơn, phụ thuộc vào mức độ tổn thương ở cầu thận.

– Người ta có thể dùng tỷ số A/G để đánh giá mức độ tổn thương: khi tỷ số A/G nước tiểu càng nhỏ tức là bệnh càng nặng (viêm thận mạn tính)

– Trừ một số trường hợp protein niệu không do thận như: do tư thế đứng lâu, do cột sống, do gan hoặc do thai chèn ép,… còn lại protein niệu thường là một triệu chứng của bệnh thận.

b. Huyết niệu: bình thường trong nước tiểu hầu như không có hồng cầu.

– Trong bệnh lý thường xuất hiện hồng cầu do hai cơ chế sau:

+ Do tổn thương gây vỡ mạch máu ở đường tiết niệu nói chung.
+ Do tổn thương gây tăng tính thấm thành mach ở cầu thận như viêm, nhiễm độc, dị ứng để hồng cầu lọt ra ngoài được, lượng rất ít thì khó thấy còn nếu khi mạch quản tổn thương nặng thì màu sắc nước tiểu thay đổi rõ rệt có khi có màu thẫm đen, nâu,…

c. Đường niệu: (glucose niệu)

– Do rối loạn tái hấp thu ở ống thận, gặp trong các bệnh nhiễm độc bởi CO2, thủy ngân chloroform, asen, tinh dầu thông, morfin,…
– Trong một số bệnh như cúm chó, viêm não tủy,…
– Trong trường hợp bệnh lý thường gặp bệnh đái tháo đường ở chó
– Ngoài ra, đường niệu cũng có thể gặp trong một số trường hợp như khi ăn quá nhiều đường hoặc quá hưng phấn hoặc GS non, GS có thai,…

d. Trụ niệu: là những khuôn ống thận do protit hay lipit bị đông vón lại dưới ảnh hưởng của những thay đổi tính chất lý hóa học của nước tiểu gây ra.

– Theo thành phần, người ta chia làm các loại trụ niệu chính:
+ Trụ trong, chỉ cấu tạo bởi protit và lipid
+ Trụ tế bào, do sự kết tụ của các tế bào: bạch cầu, liên bào thận, có thể cả những xác vi khuẩn (thường có nhân tế bào bắt màu xanh khi nhuộm HE).
+ Trụ hồng cầu, cấu tạo bởi hồng cầu thường bắt màu đỏ gạch.
+ Trụ tơ huyết