Nêu các đặc điểm chủ yếu của bệnh lao ở gia súc

– Bệnh lao (Tuberculosis) là một bệnh truyền nhiễm mạn tính chung của người và động vật với đặc điểm là hình thành các hạt lao (Tuberculum).

– Bệnh do vi khuẩn gây ra

– vi khuẩn lao có sức đề kháng cao, trong phân GS, vi khuẩn sống 6 tháng. Ở lớp phân độn chuồng sâu 40 cm, sau 4 năm vi khuẩn vẫn còn khả năng gây bệnh.

+ Trong buồng người ốm, đờm chỉ mất độc lực sau 70 ngày.

+ Ánh sáng mặt trời làm mất độc lực sau 8h

– Bò là GS mẫn cảm nhất.

a. Cơ chế sinh bệnh:

– Đường xâm nhập:

+ Đường hô hấp: bò trưởng thành hay nhiễm qua đường hô hấp. Mầm bệnh từ bệnh súc bài ra ngoài có thể dính vào bọt nước bay lơ lửng trong không khí, hoặc khi phân, đờm khô đi thì mầm bệnh dính vào các hạt bụi, GS khỏe hít phải mầm bệnh.

+ Đường tiêu hóa: sữa nhiễm vi khuẩn, thức ăn, nước uống có lẫn mầm bệnh,… sự lây nhiễm qua sữa là rất quan trọng.

+ Bệnh có thể lây qua núm nhau, từ mẹ sang con

+ Lây qua đường sinh dục khi giao phối.

– Sau khi vào cơ thể vi khuẩn lao có thể gây ra tình trạng cảm nhiễm hoặc không cảm nhiễm, ngay cả những con vật bị cảm nhiễm vẫn có thể không mắc bệnh khi sức đề kháng của con vật tốt.

– Cảm nhiễm được hay không còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện: loài GS, tuổi, điều kiện dinh dưỡng, tính miễn dịch, tính phản ứng của cơ thể đối với vi khuẩn lao, số lượng, độc lực của vi khuẩn lao,…

 

– Nếu cơ thể cảm thụ cao thì bất cứ xâm nhập qua đường xâm nhập nào, vi khuẩn lao cũng gây nên những phản ứng viêm tương ứng – bao gồm: biến chất, rỉ viêm, tăng sinh.

– Thời kỳ nung bệnh rất đa dạng, rất khó xác định tùy thuộc vào đường xâm nhập, số lượng và độc tố mầm bệnh, tính cảm thụ và trạng thái dinh dưỡng của súc vật. Thời kỳ nung bệnh từ 2 – 4 tuần. Nếu gây bệnh bằng đường hô hấp, thời kỳ nung bệnh có thể kéo dài tới 1 tháng.

– Diễn biến bệnh lao còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

+ Độc lực vi khuẩn
+ Sức đề kháng của cơ thể
+ Số lần tiếp xúc của cơ thể với vi khuẩn

– Dựa vào cơ chế sinh bệnh có thể chia ra:

+ Lao sơ nhiễm
+ Lao hậu nhiễm.

1. Thời kỳ sơ nhiễm:

– Khi cơ thể tiếp xúc lần đầu tiên với vi khuẩn lao, sau khi vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể sẽ gây tổn thương nguyên phát ở nơi vi khuẩn xâm nhập. Tổn thương này là phức hợp nguyên thủy. Có 3 loại phức hợp nguyên thủy:

+ PHNT hoàn toàn là trường hợp vi khuẩn gây tổn thương cơ quan nó xâm nhập và các hạch lympho tương ứng.
+ PHNT không hoàn toàn là trường hợp vi khuẩn không gây tổn thương cơ quan nó xâm nhập mà chỉ gây tổn thương hạch lympho tương ứng.

+ PHNT hỗn hợp là loại tổn thương khi vi khuẩn lần đầu đã gây tổn thương hạch lympho của toàn thân.

– Tiến triển của PHNT:

+ Nơi tổn thương được hóa sẹo và khỏi hẳn
+ Tổ chức xơ bao vây hình thành nang rồi vùng trung tâm canxi hóa không hoạt động nữa.
+ vi khuẩn vào máu, lan rộng tới các cơ quan gây lao kê. Loại lao này gọi là lao kê lan rộng sớm, hay xảy ra ở loại gia súc rất mẫn cảm với vi khuẩn lao và sức đề kháng của cơ thể quá yếu.

+ Lao sơ nhiễm xảy ra ở mọi lứa tuổi của ĐV, cả bò, lợn, chó,…(ít gặp ở mèo).

2. Thời kỳ hậu nhiễm (lao thứ phát)

– Hay gặp ở GS trưởng thành, đây là bệnh lao thực thụ do cơ thể bị nhiễm khuẩn tái phát

– Nguồn gốc vi khuẩn:

+ Từ ổ lao nguyên phát trỗi dậy, tăng độc lực và số lượng rồi tấn công vào máu, tới các cơ quan thụ cảm nhất.
+ vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào
– Lao thứ phát hay gặp ở phổi, thận, hạch lympho, ruột và vú, tổn thương lao tiến triển chậm, kéo dài, do cơ thể đã có miễn dịch nhất định đối với căn bệnh trong lao sơ nhiễm.

Phụ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể.

– Đường biểu diễn sốt hình sin

– Trong lao hậu nhiễm vi khuẩn thường lan rộng theo đường ống mà ít lan rộng theo đường lâm ba vào máu nên có khi cơ quan bị tổn thương mà hạch lympho tương ứng vẫn bình thường.

 

– Các hạt lao ít bị canxi hóa, thường hình thành mủ lao rồi tạo ra các hang lao.