Thế nào là nhiễm lạnh? Nguyên nhân, điều kiện và các rối loạn khi nhiễm lạnh?

1. Nhiễm lạnh:

a. Khái niệm: Thân nhiệt giảm (Nhiễm lạnh): giảm thân nhiệt là trạng thái mất nhiều nhiệt của cơ thể gây rối loạn cân bằng giữa thải nhiệt và sinh nhiệt làm cho thân nhiệt giảm xuống và tỷ số SN/TN < 1

b. Phân loại: 3 loại giảm thân nhiệt:

  • Giảm thân nhiệt sinh lý: gặp ở ĐV ngủ đông.
  • Giảm thân nhiệt bệnh lý: do nhiệt độ môi trường thấp hoặc trạng thái bệnh lý của cơ thể.
  • Giảm thân nhiệt nhân tạo: Dùng trong phẫu thuật, điều trị bệnh.

2. Nguyên nhân và điều kiện gây giảm thân nhiệt:

  • Giảm sản nhiệt, gặp khi RLCH trung gian nặng như: xơ gan, thiếu dinh dưỡng…
  • Tăng thải nhiệt (do nhiệt độ của môi trường bên ngoài thấp) vượt quá khả năng SN của cơ thể nhiễm lạnh.
    • Nhiễm lạnh cũng có thể xảy ra trong trường hợp nhiệt độ của môi trường bên ngoài không thấp lắm (đặc biệt trong môi trường nước). Thường gặp trong khi GS ngâm lâu dưới nước, đứng lâu nơi có gió lùa.
  • Vừa giảm SN vừa tăng TN do giãn mạch ngoại vi gặp khi bị sốc hoặc sau cơn kịch phát của bệnh nhiễm khuẩn làm hạ huyết áp, trụy tim mạch.
  • Trong những điều kiện như nhau của điều kiện nhiệt độ môi trường, mức độ nhiễm lạnh khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố:

*) Thời gian tác dụng: dài hay ngắn
*) Độ ẩm và tốc độ của không khí chuyển động
*) Trạng thái cơ thể, tuổi tác có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng điều nhiệt.
*) Tình trạng nuôi dưỡng

3. Những rối loạn của cơ thể khi bị giảm thân nhiệt:

Có 3 thời kỳ:

a. Thời kỳ đầu: thời kỳ hưng phấn, cơ thể cố duy trì thân nhiệt: mạch ngoại vi co lại, làm giảm TN, tiết adrenalin, tăng chuyển hóa trong cơ thể, tăng glucoza huyết, rùng mình, làm tăng sinh nhiệt (tăng vận động, run, tăng trưởng lực cơ, tăng tuần hoàn, tăng hô hấp, tăng hấp thụ oxy). Phản ứng này phát sinh theo cơ chế phản xạ. Phản ứng không xảy ra nếu trung tâm điều hòa nhiệt bị ức chế.

b. Thời kỳ 2: thời kỳ ức chế do tác dụng lâu dài của lạnh, cơ thể tiếp tục mất nhiệt, những phản ứng kể trên bị giảm sút: tim chậm, hô hấp chậm, cung cấp oxy bị giảm, chuyển hóa bị rối loạn, các sản phẩm độc bị tích lại nhiều gây nhiễm độc toàn thân.

c. Thời kỳ 3: thời kỳ kiệt quệ, các chức phận sinh lý bị suy sụp hoàn toàn, con vật hôn mê, rồi chết trong tình trạng liệt hô hấp. Mổ khám thấy hiện ttrưởngợng thoái hóa mỡ nội tạng và niêm mạc bị xuất huyết.