Các thể tổn thương lao ở gia súc

Thể lao tăng sinh: hình thành tổ chức hạt đặc hiệu – hạt lao (Tuberculum)

– Khi VK lao vào cơ thể, đầu tiên nó bị các BCĐNTT bao vây thực bào, nhưng do độc lực cao của VK cao nên BCĐNTT bị tan rữa, phản ứng này kéo dài không quá 24h, số lượng BCTT giảm dần và biến mất.

– Thay vào đó sẽ là BCĐNL (loại BC này có khả năng thực bào cả VK lao và BCTT già yếu).

– Nếu cơ thể có sức đề kháng mạnh, VK lao sẽ bị bao vây và bị tiêu diệt, do độc lực cao của VK lao nên BCĐN bị chuyển thành tế bào bán liên (Epitheloid).

+) Tế bào bán liên (Epitheloid): có nhân hình bầu dục, nhân xốp, nguyên sinh chất nhuộm nhạt, ranh giới không rõ ràng (về hình thái, nửa giống tế bào tổ chức liên kết, nửa giống tế bào liên bào).

+ Nguồn gốc, từ tế bào đơn nhân, từ tế bào sợi, tế bào hệ liên võng, tế bào nội, ngoại mạc huyết quản chuyển thành.

+ Tế bào bán liên được coi là thành phần quan trọng nhất (nếu không phải điển hình nhất) của hạt lao vì nó không bao giờ vắng mặt trong hạt lao, tế bào này càng nhiều chứng tỏ sức đề kháng của cơ thể được tăng cường.

+) Tế bào khổng lồ (Langhans): là tế bào rất lớn, nguyên sinh chất bắt màu hồng với thuốc nhuộm eosin, có nhiều nhân, xếp hình móng ngựa, vòng tròn, hoặc lộn xộn.

+ Nguồn gốc: có thể do hợp nhất các tế bào đơn nhân hoặc tăng sinh của các tế bào bán liên, có sự phân chia nhân còn phần nguyên sinh chất không phân chia.

+ Tế bào Langhans và tế bào bán liên tạo thành tổ chức hạt đặc hiệu

+ Ở những hạt lao tăng sinh chưa bị hoại tử, tế bào này nằm ở trung tâm (hạt lao mới).

+ Ở những hạt lao đã hoại tử vùng trung tâm thì tế bào này nằm ở vùng rìa.

+ Bên ngoài hạt đặc hiệu là lớp tế bào xơ (không đặc hiệu).

– Tiến triển của hạt lao:

+ Tùy theo sức đề kháng của cơ thể mà sớm hay muộn vùng trung tâm sẽ bị hoại tử bã đậu.

+ Tổ chức hoại tử bã đậu khô dần, ở vùng trung tâm sẽ có canxi lắng đọng à “vôi hóa”.

+ Tổ chức xơ phát triển thành sẹo (lành hoàn toàn).

+ Chất hoại tử bã đậu hút nước à mủ lao, gây áp lực phá vỡ hạt lao mang theo VK lao lan rộng ra xung quanh, nếu là lao phổi mủ lao có thể được tống ra ngoài theo đường phế quản, các vết cũ hình thành các hang lao.

– Tóm lại cấu tạo vi thể các hạt lao như sau:

+ Hạt lao mới gồm: tổ chức hạt đặc hiệu và tổ chức hạt không đặc hiệu.

 

+ Hạt lao cũ: hoại tử bã đậu và tổ chức hạt đặc hiệu và tổ chức xơ bao quanh.

+ Hạt lao cũ: lắng đọng canxi và hoại tử bã đậu và tổ chức hạt đặc hiệu, tổ chức xơ.

– Nhìn mắt thường các hạt lao lúc đầu là các chấm nhỏ bằng mũi đinh ghim sau to dần bằng hạt đậu, hạt ngô, màu sắc xám đục, khô, nổi nên so với bề mặt cơ quan.

– Thể lao tăng sinh lan tràn, chủ yếu là tăng sinh tế bào ở tổ chức kẽ làm xơ cứng các cơ quan bị lao.

Thể lao thẩm xuất (lao rỉ)

– Ở thể lao này tổn thương lao thể hiện ở cục bộ hoặc lan tràn, chủ yếu gặp ở phổi, thành phần rỉ viêm gồm các fibrin, tế bào khổng lồ, tế bào đơn nhân, lymphocyte, dịch thẩm xuất đặc, đục có VK, giới hạn vùng tổn thương không rõ ràng lúc đầu nhỏ sau to dần.

– Xuất hiện thể lao này chứng tỏ sức đề kháng của cơ thể yếu, miễn dịch kém, độc lực vi khuẩn cao.

Thể lao biến chất

– Điển hình là lao kê: tổn thương lao là các hạt nhỏ như hạt kê, có ở nhiều cơ quan, có khi ở khắp các cơ quan trong cơ thể.

– Đặc điểm tổn thương chính của thể lao này là quá trình hoại tử tế bào và biến chất mô bào.

– Thể lao này gặp ở cơ thể có sức đề kháng quá yếu, hệ thống miễn dịch hầu như bị tê liệt (VK gây bại huyết cấp tính); con vật chết rất nhanh do lao màng não.