Các giai đoạn phát triển của bệnh? Ý nghĩa của việc nghiên cứu các giai đoạn đó?

Các giai đoạn phát triển của bệnh bao gồm thời kỳ ủ bệnh, thời kỳ tiền phát, thời kỳ toán phát và thời kỳ kết thúc. Ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu và giúp cho quá trình chẩn đoán, điều trị bệnh dễ dàng hơn.

a. Thời kỳ nung bệnh (ủ bệnh):

  • Bắt đầu từ khi tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể và bắt đầu phát huy tác dụng đến khi cơ thể có những phản ứng đầu tiên.
  • Thời kỳ này khả năng thích ứng của cơ thể còn mạnh nên chữa có biểu hiện bệnh rõ.
  • Thời kỳ này dài hay ngắn là tùy thuộc vào điều kiện bên ngoài, trạng thái cơ thể, đặc tính của từng tác nhân gây bệnh.

 

Ví dụ: nhiệt thán nung bệnh 1 – 5 ngày, Uốn ván: 7 – 15 ngày, Dại: 1 – 3 tháng

b. Thời kỳ tiền phát (tiền chứng)

  • Bắt đầu từ khi cơ thể có những phản ứng đầu tiên đến khi bắt đầu xuất hiện những triệu chứng chủ yếu.
  • Giai đoạn này, nguyên nhân gây bệnh tác động mạnh, khả năng thích ứng của cơ thể giảm, con vật có một số triệu chứng chủ yếu của bệnh nên chẩn đoán sơ bộ và đưa ra các phác đồ điều trị kịp thời.

c. Thời kỳ toàn phát

  • Bắt đầu từ khi cơ thể có những triệu chứng rõ rệt cho tới khi có những chuyển biến đặc biệt, các rối loạn cơ năng biểu hiện rõ ràng, có triệu chứng điển hình của bệnh.
  • Rối loạn trao đổi chất và tổn thương bệnh lý ở thời kỳ này là nặng nề nhất.

d. Thời kỳ kết thúc

  • Bệnh có thể thuyên giảm dần và khỏi.
  • Bệnh có thể nặng lên, rối loạn cơ năng nghiêm trọng không thể khôi phục được. Diễn biến thời kỳ kết thúc Thường:

Khỏi hoàn toàn: Nguyên nhân bệnh mất hết tác dụng, cường độ các triệu chứng giảm dần rồi mất hết, các tổn thương được phục hồi hoàn toàn, chức năng có thể trở lại bình Thường. Với các bệnh truyền nhiễm, phản ứng có thể thay đổi và hình thành trạng thái miễn dịch.

Khỏi không hoàn toàn:

  • Nguyên nhân bệnh đã ngừng hoạt động.
  • Các triệu chứng chủ yếu đã hết.
  • Cấu tạo, chức năng chữa được phục hồi hoàn toàn (ví dụ: hẹp hở van tim, chật khớp, mất khả năng tiết sữa,…)
  • Có thể sự lành bệnh chỉ là biểu hiện bề ngoài, sau một thời gian bệnh lại tái phát trở lại do yếu tố
    gây bệnh chữa bị tiêu diệt hoàn toàn, sức đề kháng của cơ thể yếu.

Chết: là giai đoạn cuối cùng của sự sống, cơ thể không thể thích nghi với những biến đổi của điều kiện tồn tại.

Lý do:

  • Ngừng hoạt động của tim
  • Ngừng hô hấp, liệt trung khu hô hấp
  • Chết nhanh có thể do đột tử

Trước khi chết Thường trải qua giai đoạn hấp hối. Giai đoạn này có 3 thời kỳ:

  • Thời kỳ ngưng cuối cùng: 0,5 – 1,5 phút. Tim và hô hấp ngừng tạm thời, mất phản xạ mắt, đồng tử mở rộng, vỏ não bị ức chế, các hoạt động bị rối loạn.
  • Thời kỳ hấp hối: 3 – 30 phút. Xuất hiện hô hấp trở lại, thở ngáp cá, tim đập yếu, phản xạ có thể xuất hiện trong thời kỳ này, hoạt động của tủy sống ở mức tối đa để duy trì các chức năng sinh lý.
  • Chết lâm sàng: 5 – 6 phút. Hoạt động của tim, phổi ngừng, thần kinh TW hoàn toàn bị ức chế. Trong thời gian này cơ thể có thể hồi phục được (khác chết sinh vật).
  • Chết sinh vật: Mọi khả năng hồi phục không còn nữa, rối loạn chủ yếu ở hệ thần kinh TW. Các cơ quan tổ chức không chết cùng một lúc mà chết lần lượt phụ thuộc vào khả năng chịu đựng sự thiếu oxy của từng loại mô. Mà trước tiên là hệ thần kinh cao cấp rồi đến tuần hoàn, hô hấp.

Ý nghĩa:

  • Ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu và giúp cho quá trình chẩn đoán, điều trị bệnh dễ dàng hơn.
  • Ứng dụng trong chăn nuôi, cần nuôi cách ly trước khi nhập đàn khoảng 2 tuần.