Các dạng tổn thương bệnh lý thường gặp ở ruột gia súc gia cầm

Rối loạn tuần hoàn ruột

– Xung huyết:

+ Xung huyết sinh lý, sau bữa ăn ruột xung huyết nhằm tăng cường quá trình tiêu hóa và hấp thu thức ăn.

+ Xung huyết bệnh lý, gặp trong các bệnh truyền nhiễm do VK, virus như: DTL, PTH, THT, ĐDL,…

+ Do các tác động lý học, hóa học, các chất kích thích như hạt tiêu, ớt, CCl4, tia xạ, chườm nóng, va đập….

+ Khi mổ khám thấy niêm mạc đỏ ửng toàn bộ hoặc từng đám, do các mạch quản dãn rộng chứa đầy hồng cầu, niêm mạc ruột có nhiều nước phù, TB niêm mạc trương to, mọng nước.

– Xuất huyết: thường gặp ở niêm mạc, máu chảy vào ống ruột rồi theo phân ra ngoài. Gặp trong các bệnh truyền nhiễm, nhiễm độc: As, Hg, lân hữu cơ, muối ăn, độc tố nấm mốc, do viêm ruột nặng gây loét ruột.

Viêm ruột

– Viêm ruột cata cấp tính: giai đoạn đầu ruột xung huyết đỏ ửng, sau chuyển dần sang ứ huyết, ruột tím bấm, niêm mạc mọng nước, nặng hơn nữa là viêm ruột cata mủ, viêm cata loét hoặc cata hoại tử.

+ Viêm ruột cata cấp tính thường gây ỉa chảy, do nước thoát ra khỏi mạch quản rồi chảy vào ống ruột, phân lỏng, có lẫn niêm dịch, lẫn bọt, phân màu xanh, vàng hoặc nâu, nếu xuất huyết nặng phân màu đen sẫm, lẫn máu.

+ Viêm ruột cata cấp tính có thể gặp dạng toan tính nếu thức ăn có nhiều gluxit tích lại, viêm cata kiềm tính nếu thức ăn có nhiều protit.

+ Viêm ruột cata cấp tính hay gặp trong các bệnh truyền nhiễm, trúng độc, thức ăn lạ, thức ăn khó tiêu.

*) Hậu quả: mất nước do ỉa chảy, mất các chất điện giải, gây giảm trọng lượng, trở ngạ quá trình oxy hóa mô bào, con vật đi tiểu ít, các sản phẩm độc tích lại trong cơ thể.

– Viêm ruột cata mạn tính: quá trình xung huyết không rõ mà ứ huyết là chủ yếu, niêm mạc đỏ sẫm, có nhiều vệt nhỏ màu xanh lục, máu bị phá hủy tạo ra biliverdin, niêm mạc suy dinh dưỡng sẽ teo dần làm cho ruột mỏng; gặp trong các bệnh KST mạn tính ở chó, gia cầm.

– Ngược lại, một số trường hợp do tăng sinh nhiều TB xơ làm cho thành ruột dày hơn bình thường và hình thành các nụ thịt (thể polip); các tế bào xơ còn làm tắc tuyến ruột, chất nhờn tích lại hình thành các túi nhờn ở hạ niêm mạc.

+ Hay gặp trong các bệnh do tổn thương gan, lượng axit mật không đủ cho quá trình tiêu hóa hoặc do các bệnh truyền nhiễm, KST mạn tính.

– Viêm ruột tơ huyết: Thể Crouposa, tơ huyết tiết ra thành sợi bám trên bề mặt niêm mạc ruột hoặc bao lấy khuôn phân thành lớp màng mỏng rồi thải ra ngoài theo phân, thường gặp trong bệnh ỉa chảy do viêm ruột ở trâu bò, trong bệnh do Trypanosoma, bệnh dịch tả ngỗng.

+ Thể Diptheria, gặp trong bệnh DTL, PTH lợn thể mạn, DTTB, lao ruột, nhiệt thán ở lợn – thể ruột.

+ Lao ruột: hay gặp ở bê và gà, các hạt lao màu trắng xám, vàng xám, bằng hạt kê, hạt ngô,… to – nhỏ, thưa – dày tùy theo từng ca bệnh, hạt lao có ở cả niêm mạc, cơ niêm, tương mạc….