Các dạng tổn thương bệnh lý thường gặp ở dạ dày?

a. Xuất huyết dạ dày:

– Xuất huyết tương mạc dạ dày: mức độ: xuất huyết điểm, ban xuất huyết,… gặp trong các bệnh truyền nhiễm, bại huyết: DTL, DTTB, nhiệt thán, nhiễm độc, chết ngạt,…

– Xuất huyết niêm mạc dạ dày: mức độ xuất huyết điểm, vệt xuất huyết,… gặp trong các bệnh truyền nhiễm, ngộ độc như: Newcastle, nhiệt thán, thương hàn chó, ngộ độc nấm mốc, ngộ độc thuốc trừ sâu, viêm cấp tính hoặc xung huyết kéo dài…

b. Viêm dạ dày:

– Viêm dạ dày cata cấp tính:

+) Nguyên nhân nguyên phát: do niêm mạc dại dày bị kích thích bởi thức ăn kém phẩm
chất, mốc, thối, do dùng các loại thuốc kích thích mạnh như: CCl4,…
+ Do con vật phải làm việc quá sức ngay sau khi ăn nên quá trình tiêu hóa bị tạm ngừng,
thức ăn lên men gây viêm.
+ Do viêm miệng, đau răng thức ăn chưa được chuẩn bị kỹ đã đưa vào dạ dày tạo ra các
kích thích cơ học.
+) Nguyên nhân kế phát: gặp trong các bệnh truyền nhiễm: DTL, DTTB, PTH,…
+ Thể hiện của viêm dạ dày cata cấp tính như sau: Niêm mạc đỏ ửng từng vệt, từng đám,
niêm mạc phù, tế bào trương to, hạ niêm mạc xung huyết, phù, thâm nhiễm tế bào viêm.

– Viêm dạ dày cata mạn tính:

+ Nguyên nhân: do viêm cấp tính chuyển thành, do xung huyết tĩnh mạch mạn tính (suy tim phải).
+ Thể hiện: Khi xung huyết kéo dài chuyển sang ứ huyết, TB bị thiếu dinh dưỡng gây thoái hóa, hoại tử, TB xơ tăng sinh hình thành nụ thịt (thể polip).

– Dạ dày viêm mủ: các ổ mủ có ở thành dạ dày do các vật cứng đâm vào, kèm theo sự tác động của vi khuẩn sinh mủ, ổ mủ to nhỏ phụ thuộc vào quá trình viêm và mức độ nhiễm trùng.

c. Loét dạ dày:

c.1. Loét cấp tính:

– Loét nông: do lớp niêm mạc bị thoái hóa, hoại tử long ra để lại rãnh nông trên bề mặt, màu đỏ sẫm, gặp trong bệnh dại, DTL, DTTB, hoặc hậu quả của viêm dạ dày cấp tính xuất huyết, dạ dày ứ huyết kéo dài, tổn thương thần kinh dinh dưỡng.

– Loét sâu: tổn thương niêm mạc kèm theo tổn thương phần hạ niêm mạc và có khi cả phần cơ niêm, vết loét thường lớn và sâu, có đáy màu đỏ sẫm hoặc phủ chất chứa bẩn màu xanh, vàng xám, gặp trong các bệnh DTL, DTTB,…

– Loét dạ dày do tiêu hóa: hay gặp ở bê, do niêm mạc dạ dày đã bị thoái hóa lại chịu tác động của dịch vị dạ dày.

+ Khi niêm mạc dạ dày bị thoái hóa, hoại tử, mucin không được tiết ra nữa, khả năng bảo vệ của nó không đảm bảo, dịch vị tác động gây loét, gặp trong các bệnh truyền nhiễm, nhiễm độc.

+ Loét do vết thương hay gặp ở bê cai sữa sớm, do tập ăn quá sớm, sự phát triển của dạ dày chưa hoàn chỉnh, hệ thần kinh cũng chưa hoàn chỉnh, nên phản xạ nhai lại, phản xạ ợ hơi yếu, thức ăn cứng gây loét.

+ Trong thực tế khi mổ khám thấy bê ở 4 – 5 tuần tuổi có 72,4% loét mới; bê 8 – 14 tuần tuổi có 94,8 – 98% loét; bê 10 – 12 tuần tuổi có cả loét cũ và loét mới, nhưng bê 6 – 18 tháng tuổi thì không thấy loét nữa.

c.2. Loét mạn tính: trên niêm mạc thường thấy các nốt loét hình tròn, hình bầu dục có mức độ nông sâu khác nhau, có khi ăn sâu xuống lớp cơ và cả tương mạc gây thủng dạ dày, viêm dính với các cơ quan khác.

– Các vết loét cũ rìa gọn, tb xơ phát triển thành sẹo hình sao, hình phóng xạ, loại loét này thường do viêm dạ dày, rối loạn tiêu hóa hoặc rối loạn thần kinh dinh dưỡng.