Các đặc điểm bệnh lý đặc trưng có ý nghĩa chẩn đoán của bệnh xoắn khuẩn ở lợn

Triệu chứng bệnh xoắn khuẩn ở gia súc

– Tất cả các loại lợn: nội, ngoại, lai đều mẫn cảm với bệnh ở tất cả các lứa tuổi. Nhưng tỷ lệ chết khác nhau: lợn con 50 – 70%, lợn trưởng thành 5 – 10%.

– Vùng mới xuất hiện bệnh hoặc ổ dịch mới, bệnh tiến triển nhanh, ở thể nặng và có các biểu hiện triệu chứng: Sốt cao, ăn ít, hoặc bỏ ăn hẳn, mệt mỏi, thích nằm ở xó chuồng, nước tiểu vàng hoặc vàng nâu.

– Bệnh nặng lợn đái ra máu, niêm mạc và da vàng như nghệ, rối loạn tiêu hóa, phù đầu, tiếng kêu khàn đặc

– Lợn nái có chửa thường hay bị sảy thai

– Lợn chết sau 3 – 5 ngày, nếu không dùng thuốc để can thiệp

– Do bị phù, nhiều khi bắt lợn có cảm giác hơi lạnh.

– Nước tiểu vàng, hơi sánh, nhiều khi có màu cà phê.

– Niêm mạc và da bị vàng ở các độ khác nhau.

– Nếu bị nặng, thấy vàng toàn thân, màu vàng như nghệ.

– Nếu bị nhẹ, chỉ vàng ở niêm mạc, nhất là niêm mạc mắt. Mắt đau có dử, có khi mù mắt.

– Thể mạn tính thường gặp ở lợn nái nuôi con, lợn trưởng thành.

– Bệnh kín đáo, các cơn sốt ít xuất hiện, lợn chậm lớn, giảm tính ăn ngon miệng.

Bệnh tích ở lợn: chia thành 2 thể

– Da và niêm mạc vàng, bệnh nặng da vàng toàn thân.

– Khi mổ GS thịt có mùi khét, đặc trưng.

– Tổ chức liên kết dưới da vàng và thủy thũng.

– Xoang ngực và xoang bụng có nhiều nước màu vàng.

– Gan sưng, vàng và dễ nát, túi mật teo, dịch mật sánh

– Có trường hợp túi mật căng to.

– Lách sưng

– Thận xó màu vàng nhạt và có đám hoại tử

– Hạch lympho ở ruột sưng và thủy thũng.

– Bàng quang căng to chứa đầy nước tiểu vàng sẫm có thể lẫn máu, niêm mạc bàng quang xuất huyết.

b.1. Thể hoàng đản (L.icterohaemorrhagia)

– Tiến triển cấp tính hoặc mạn tính. Con vật hoàng đản rõ, khi mổ khám thấy các mô bào, dịch thể vàng như phủ một lớp bạc.

– Vàng da, vàng niêm mạc, vàng cả mỡ và nước trong các xoang (lợn nghệ).

– Mùi rất khét, tanh, hôi.

– Phù: phù keo nhầy dưới da mặt, hầu, bụng bao dương vật, phù kẽ cơ, phù tổ chức liên kết.

– Tổn thương các cơ quan:

+) Gan:

+ Đại thể: hơi sưng, màu vàng cam hoặc vàng nâu, màu đất sét, lẫn vào đó có các vệt đỏ. Màng gan căng, rìa tù, mặt cắt có hiện tượng ứ mật, ở phần sâu có các điểm xuất huyết, có các cục mật đọng nằm rải rác, túi mật teo.

+ Vi thể: các bè gan đứt nát, lộn xộn, tế bào gan thoái hóa hoặc hoại tử, trong các tế bào gan có đọng mật, các mao quản mật dãn và chứa mật, khoảng cửa có nhiều tế bào viêm: tổ chức bào, lymphocyte, BCĐNTT.

+) Thận: hoàng đản rõ, tụ huyết, sưng to, niêm mạc bể thận nhuốm vàng, mỡ quanh thận cũng vàng, mặt cắt thận có nhiều đốm trắng nhỏ, tế bào ống thận thoái hóa, kẽ thận có nhiều tế bào viêm.

+ Hạch lympho rốn thận xung huyết, xuất huyết.

+ Nhuộm tẩm bạc có thể thấy VK ở trong thận

+) Bàng quang: căng, chứa đầy nước tiểu màu vàng, có cặn sánh, niêm mạc vàng, có điểm loét, xuất huyết nhỏ, cặn nước tiểu của bàng quang có nhiều VK.

+) Phổi phù: hoàng đản, mỡ vành tim xuất huyết nhẹ, màu vàng. Ruột vàng, niêm mạc ruột xuất huyết nhẹ, niêm mạc kết tràng loét nhẹ.

b.2. Thể không hoàng đản (L.pomona)

– Triệu chứng lâm sàng không rõ, chỉ thấy tổn thương ở thận, vỏ thận khó bóc, lớp vỏ thận hẹp lại, ranh giới vùng vỏ và vùng tủy không rõ ràng.

– Vi thể: viêm kẽ thận, tăng sinh nhiều tế bào lymphocyte, tổ chức bào, tế bào đơn nhân, tế bào xơ. Tế bào ống thận thoái hóa, hoại tử.

– Lợn nái hay xảy thai do tăng sinh tổ chức liên kết ở nhau, thoái hóa màng nhung mao ở thai.