Các đặc điểm bệnh lý đặc trưng có ý nghĩa chẩn đoán của bệnh xảy thai truyền nhiễm?

– Bệnh xảy thai truyền nhiễm là một bệnh truyền nhiễm là một bệnh truyền nhuyễn mạn tính của người và động vật. Gây viêm và hoại tử các cơ quan phủ tạng, nhất là ở tử cung, nhau thai, thường dẫn đến xảy thai, sát nhau, sổi (đôi khi vẫn gặp thể cấp tính).

a. Ở bò:

– Ở bò cái, triệu chứng rõ nhất là hiện tượng xảy thai vì các triệu chứng khác không có gì rõ rệt. Tuy vậy trong chăn nuôi theo phương thức chăn thả nhất là ở miền núi, hiện tượng xảy thai còn do nhiều nguyên nhân, vì vậy hiện tượng xảy thai chưa được chú ý đúng mức.

– Các cơn sốt thường không được chú ý đến.

– Ít khi thấy bò xảy thai trước tháng chửa thứ ba, bò thường xảy vào tháng thứ 6 – 8.

– Trước khi xảy, bò mẹ vẫn có đủ triệu chứng sắp đẻ, mẩy sưng đỏ, chảy nước nhớt, vú căng, có sữa đầu, sụp mông.

– Sau khi xảy, bò mẹ vẫn khỏe mạnh. Nếu xảy sớm, thường cả bọc thai ra.

– Nếu xảy muộn, thai vẫn ra, sát nhau hoặc không.

– Nước ở âm hộ chảy ra thường đục hơn, bẩn và không có mùi.

– Sau khi xảy một vài tuần, nước ở âm hộ ngừng chảy, tử cung trở lại bình thường và lại chịu đực được.

– Nếu sát nhau, thường khó bóc nhau, có khi nhau bị nát, bóc ra từng mảng, con cái bị sổi.

b. Ở cừu: hiện tượng sảy thai rất hay gặp.

– Trước lúc bị sảy thai từ 2 – 8 ngày, cừu mệt lả, sốt, uống nhiều nước, không ăn hay ăn ít.

– Cừu thích nằm, viêm âm hộ, chảy nước nhớt, có khi cừu bị liệt chân sau.

– Ở con đực, dương vật bị sưng đỏ, dịch hoàn và thượng hoàn bị viêm.

– Nếu bị viêm cấp tính thì dịch hoàn viêm, nóng, đau, sưng to gấp hai, ba lần bình thường.

– Khi sờ vào dịch hoàn, vật phản ứng mạnh

– Vật sốt, bỏ ăn, thích nằm. Sau một thời gian, dịch hoàn cứng dần rồi teo lại, tính đực của vật giảm rõ rệt. Phẩm chất và số lượng tinh dịch giảm hẳn.

– Hiện tượng viêm khớp thường gặp kể cả ở những con không bị xảy thai.

– Trong giai đoạn đầu, vật đau khớp. Sau đó, ở khớp, nhất là khớp đầu gối tăng sinh tạo thành một cái bìu to bằng nắm tay hay bằng cái bát. Nếu bệnh kéo dài có thể làm vẹo hẳn khớp đi.

c. Ở lợn: thường hay bị sảy thai, tuy không nhiều bằng bò

– Trước lúc xảy, lợn thường hay bị ỉa chảy, thủy thũng ở vú, âm đạo chảy nước nhớt, kém ăn. Lợn thường bị sảy vào tuần 4 – 12.

– Nếu bị sảy sớm thì thai chết hoặc rất yếu.

– Nếu sảy muộn, lợn con có thể sống sót.

– Ngoài ra còn thấy lợn bị bại liệt chân sau do viêm cột sống, nổi nhọt dưới da, què do viêm gân hay nổi nhọt trong xương.

d. Ở ngựa: Rất ít khi gặp hiện tượng sảy thai. Ngựa thường yếu lả, không muốn chạy hay không chạy được, sốt thấp khớp.

– Ngựa hay bị viêm các túi khớp ở gáy, ở vai, đầu gối và cổ chân. Các túi khớp có khi to bằng nắm tay, quả bóng. Khi cắt túi khớp ra có nước đó thành mủ rồi vỡ ra tạo thành lỗ dò ở gáy, u vai,…