Các cơ chế gây phù? Phân loại phù? Tác hại của phù?

Phù là khi nước bị giữ lại trong kẽ tế bào hoặc trong tế bào; nước tích tụ trong các xoang tự nhiên của cơ thể gọi là tích nước.

a. Các cơ chế phù

– Tăng áp lực thủy tĩnh: làm cho nước bị đẩy khỏi lòng mạch nhiều hơn lượng nước trở về theo lực hút của áp lực keo. Thường gặp trong phù do suy tim phải gây phù vùng thấp của cơ thể, suy tim trái gây phù phổi; phù do chèn ép TM (viêm tắc, có thai,…) trong báng nước khi xơ gan (cản trở hệ tĩnh mạch cửa), thắt garo…

– Tăng áp lực keo của huyết tương: khi lượng albumin trong máu bị thiếu hụt, nước không thể trở về lòng mạch được ứ lại trong các khoảng gian bào gây phù. Gặp trong các loại phù do suy dinh dưỡng, suy gan, xơ gan, nhiễm mỡ thận (mất nhiều protein và mọi trường hợp giảm protein huyết tương khác).

– Tăng tính thấm thành mạch: làm cho protein thoát qua thành mạch và gian bào làm giảm áp lực keo của máu, gây phù.

– Tích muối và điện giải: Khi tích muối và điện giải làm tăng ASTT ở gian bào. Cơ quan chủ yếu đào thải điện giải là thận, với sự điều hòa của aldosteron, cơ chế này có vai trò trong phù do viêm thận.

– Phù do tắc mạch bạch huyết: khi viêm hạch, tắc mạch lympho, giun chỉ,…do dịch phù quá mức ổ mô kẽ cũng được dẫn lưu bởi các mạch lympho để cuối cùng trở về vòng tuần hoàn qua ống ngực. –

Ứ đọng sodium cùng với nước trong các bệnh thận cũng gây phù.

dong-vat-26

b. Phân loại phù

– Phù toàn thân:

+ Do tác động của nhiều cơ chế toàn thân gây ra
+ Điển hình là phù do suy tim, phù do gan (viêm gan, xơ gan), phù do thận (viêm thận, hư thận),
phù do suy dinh dưỡng.

– Phù cục bộ:

+ Phạm vi hẹp hơn, thường do một hoặc một vài cơ chế tác động
+ Điển hình là phù viêm, phù do dị ứng, do côn trùng đốt, do nghẽn, tắc tĩnh mạch.

c. Tác hại phù:

– Phù tim: hậu quả của suy tim do tăng áp lực thủy tĩnh của huyết tương phối hợp với tổn thương nội mạc mạch máu do thiếu oxy. Kèm theo những tổn thương của xung huyết tĩnh mạch.

– Phù thận: phù thận hoặc do giảm áp lực thẩm thấu của huyết tương vì thiếu protein, các protein đã lọt mất nhiều qua màng đáy vi mạch cầu thận, hoặc do tăng áp lực thẩm thấu của mô kẽ vì ứ đọng sodium; hoặc do cả 2 nguyên nhân đó phối hợp.

– Phù gan: do giảm áp lực thẩm thấu của huyết tương vì gan tổng hợp protein kém và do tăng áp lực thủy tĩnh của huyết tương tại một số nơi, rõ rệt nhất là tại TM chủ dưới. Cổ trướng là ví dụ của phù gan.

– Phù khu trú: Phù TM thường biểu hiện rõ ở chi dưới do tắc dòng tuần hoàn trở về tim (viêm TM), hoặc do khối u chèn ép.

– Khi dịch ứ đọng các xoang cơ thể (tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim, tràn dịch màng bụng (cổ trướng)) làm ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan.

– Phù lan sâu dưới da toàn thân gọi là phù toàn thân.