Biến đổi bệnh lý của các dạng viêm cầu thận ở gia súc gia cầm

– Đặc điểm: quá trình viêm đầu tiên xảy ra ở cầu thận, sau đó lan sang xoang bao man, rồi tổn thương kế phát ở ống thận và kẽ thận.

– Quá trình viêm rỉ kết hợp với viêm tăng sinh.

a. Viêm cầu thận cấp tính (Glomerulo nephritis acuta)

– ĐT: nếu viêm nhẹ, thận hơi sưng, màu căng, dễ bóc.

+ Nếu viêm nặng, thận sưng to mặt cắt có các đốm trắng hoặc vàng xám, rất nhỏ, khi có tổn thương ống thận thì thận to hơn và mềm hơn, mặt cắt lồi lên.

– VT: búi mao quản to hơn bình thường, do tập trung nhiều BC và tăng sinh lớp lá tạng của xoang bao man, trong các mao quản có các huyết khối nhỏ, xoang bao man chứa thanh dịch, tơ huyết, có khi cả hồng cầu, trong ống thận có trụ hồng cầu.

+ Các ống thận tương ứng thường bị thoái hóa hạt, kẽ thận có xung huyết, rỉ viêm nhẹ.

b. Viêm cầu thận á cấp tính:

– ĐT: thận to, mềm màu vàng nhạt hoặc trắng xám, vùng viêm thường lõm xuống, vùng lành lồi lên.

– VT: rỉ viêm tăng sinh búi mao quản không rõ, chủ yếu tăng sinh lớp lá thành của xoang bao man, có dạng hình lưỡi liềm.

+ Các ống thận tương ứng thoái hóa hạt, thoái hóa mỡ.

+ Tế bào thận teo nhỏ, lòng ống rộng, có trụ trong, kẽ thận có nhiều BC như lymphocyte, monocyte,… nếu viêm kéo dài còn tăng sinh nhiều fibroblast, ở các vùng lành có hoạt động bù, mạch quản dãn rộng phân nhiều nhánh, ống thận phì đại, to và dày.

c. Viêm cầu thận mạn tính:

– ĐT: bao thận dầy, màu trắng xám, sù sì, nổi hạt nhỏ li ti, nếu cắt thấy vùng vỏ hẹp, có nhiều nang chứa nước tiểu đầu, hoặc chứa dịch có protein bị biến tính.

– VT: cầu thận bị xơ hóa, tăng sinh xoang bao man, cầu thận bị thoái hóa kính, ống thận bị thoái hóa rồi teo nhỏ, lòng ống thận rỗng, tăng sinh mô kẽ: lymphocyte, histiocyte, fibroblast,…