Bệnh dịch tả lợn có mấy thể? Biến đổi bệnh lý của các thể đó như thế nào? Các đặc điểm bệnh lý đặc trưng có ý nghĩa chẩn đoán của bệnh Dịch tả lợn?

Bệnh dịch tả lợn có mấy thể, Biến đổi bệnh lý và các đặc điểm bệnh lý đặc trưng có ý nghĩa chẩn đoán của bệnh Dịch tả lợn

– Sau một thời kỳ nung bệnh từ 3 – 4 ngày đến 8 ngày hay hơn (tùy độc lực, số lượng virus trong cơ thể và sức đề kháng của con vật), bệnh xuất hiện với 3 thể:

a. Thể quá cấp tính hay thể kịch liệt:

– Bệnh phát ra nhanh chóng, con vật đang khỏe tự nhiên chê cám, ủ rũ, sốt 41 – 420C.
– Da mỏng phía trong đùi, dưới bụng có chỗ đỏ ửng lên rồi tím lại. Con vật giãy giụa một lúc rồi chết.
– Bệnh tiến triển trong vòng 1 – 2 ngày tỷ lệ chết có thể đến 100%. Thể này ít gặp ở nước ta.

b. Thể cấp tính:

– Hay gặp ở nước ta
– Con vật ốm thì ủ rũ, buồn bã, biếng ăn hoặc bỏ ăn, ẩn vào góc chuồng để nằm, cả đàn nằm chồng đống lại với nhau.
– Hai, ba ngày sau, lợn bị sốt nặng thân nhiệt lên đến 41 – 420C suốt trong 4 – 5 ngày liền.
– Khi thân nhiệt hạ xuống là con vật gầy yếu. Nếu thân nhiệt lại tăng cao thêm lần nữa là do biến chứng, do sự phát triển của một chứng bại huyết gây ra bởi Salmonella Cholerae Suis chủng Kunzendogf.

– Con vật thở mạnh, thở hồng hộc, khát nước nhiều, chê cám. Sau đó xuất hiện nhiều những triệu chứng ở da, mắt, bộ máy tiêu hóa, hô hấp, thần kinh.

– Ở chỗ da mỏng, nhất là bên trong đùi, đầu 4 chân, mõm, tai xuất hiện những chấm vết, nốt đỏ bằng đầu đinh ghim, hạt đậu những đám xuất huyết, có khi tập hợp lại thành những mảng đỏ lớn.

– Những nốt đỏ này dần dần bầm tím lại, cũng có thể thối loét ra rồi bong vẩy.

– Mắt có nhử, có khi nhiều làm con vật không nhìn được. Do bị viêm kết mạc, viêm giác mạc có nước nhờn chảy ra.
– Virus tác động đến bộ máy tiêu hóa gây nôn mửa.

– Con vật lúc đầu đi táo, phân rắn ở giai đoạn sốt cao. Sau cùng ỉa chảy nặng mấy ngày liền ở giai đoạn cuối, có khi ra cả máu tươi, phân lỏng khắm mùi hôi thối đặc biệt. Con vật không ăn.

– Niêm mạc miệng mặt trong môi, chân răng, gốc lưỡi có mụn loét phủ bựa vàng trắng, vàng xám.

– Bộ máy hô hấp bị tác động làm cho con vật bị viêm niêm mạc mũi, chảy nước mũi đặc, ho, thở khó, nhịp thở rối loạn, ngồi như chó ngồi (cho dễ thở) thở khò khè và ngáp.

– Virus tác động vào bộ máy thần kinh gây viêm não, xuất huyết dưới màng não.

– Những triệu chứng thần kinh xuất hiện chậm, con vật có những cơn co giật thân thể nhất là khi sờ mó đến, bại liệt chân, nhất là hai chân sau, hoặc bại liệt phần sau cơ thể, làm cho con vật đi chệch choạng đầu vẹo, lê lết 2 chân sau hoặc liệt toàn thân.

– Những lợn nái chửa sắp đẻ thường bị xảy thai, những lợn nái chửa thời kỳ đầu, phối giống bị lốc hoặc không đậu thai.

– Trong máu, BC giảm rõ rệt ngay sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên, số lượng xuống dưới 5000, có khi dưới 1000 trong 1mm3 máu (bình thường 14000 – 40000).

– Trái lại, chỉ ngay trước khi chết, BC non xuất hiện và lâm ba cầu mới giảm.

– Hiện tượng dị ứng thường xuất hiện sau 2 – 3 tuần sau khi bắt đầu có triệu chứng, làm thay đổi bộ mặt bệnh lý.

– Da có màu đỏ thẫm đều trên một diện tích rộng, niêm mạc bên ngoài màu vàng, con vật thở khó và ho, ỉa chảy nặng thân nhiệt có thể cao, hoặc bình thường hay thấp hẳn.

– Con vật ốm, mệt lả, không ăn, đi ỉa chảy, gầy tọp suy yếu, nằm dài, thân nhiệt hạ thấp, giãy dụa một lúc rồi chết. Bệnh tiến triển độ khoảng 8 – 15 ngày.

– Lợn con thường chết nhanh hơn lợn trưởng thành. Tỷ lệ lợn con chết rất cao, từ 80 – 95%.

– Nếu có VK kế phát tác động thêm thì những triệu chứng nói trên sẽ trở lên trầm trọng hơn.

– Khi ghép với bệnh PTH, con vật bị ỉa chảy nhiều, phân rất thối, có triệu chứng đi tháo dạ kéo dài hoặc xen kẽ với những thời kỳ đi táo.

– Nếu ghép với bệnh THT thì có những triệu chứng viêm phổi hoặc viêm màng phổi – phổi giống như triệu chứng của bệnh THT lợn.

– Nếu có VK hoại tử tác động thì có những màng giả hình thành niêm mạc miệng và hầu, ở môi, bên trong cằm, lợi, lưỡi hầu.

– Khi có những bệnh ghép nói trên da có những vết đỏ xanh ở mõm, tai, cổ, bụng mụn mủ hoặc vảy, hoại tử ở tai, đuôi.

c. Thể mạn tính:

– Khi thể cấp kéo dài, bệnh chuyển sang thể mạn tính

– Trên da lưng sườn có vết đỏ, có khi loét ra từng mảng

– Con vật gầy yếu, lúc đi táo, lúc ỉa chảy

– Ho, khó thở. Bệnh tiến triển một tháng, tháng rưỡi có khi 2 tháng.

– Con vật chết do kiệt sức, hoặc có thể khỏi nhưng gầy còm không vỗ lên được

– Những con vật khỏi đã có miễn dịch nhưng mang và reo virus đến 3 tháng.

2. Bệnh tích:

a. Thể quá cấp tính:

– Bệnh tích không rõ, chỉ thấy niêm mạc viêm đỏ, thận xuất huyết vùng đỏ, hạch lympho sưng đỏ.

b. Thể cấp tính

– Bại huyết, xuất huyết nặng. Có nhiều điểm xuất huyết ở niêm mạc, tương mạc, da, màng phổi, màng tim, các phủ tạng,…

– Hạch amidal, hầu thanh quản viêm loét, thỉnh thoảng có những điểm hoại tử phủ chất bựa nhầy, mụn loét bờ không đều.

– Niêm mạc miệng, lợi viêm xuất huyết, có khi có mục loét nông hay sâu phủ chất bựa màu vàng trắng.

– Niêm mạc dạ dày, đặc biệt phía sau hạ vị, sưng, màu đỏ gạch, xuất huyết phủ bựa nhầy, có khi có những mụn loét sâu, có bờ.

– Niêm mạc ruột nhất là van hồi manh tràng trực tràng, hậu môn, viêm xuất huyết màu đỏ gạch, có nốt loét.

– Ở ruột già, đầu tiên là các nang lympho sưng lên, bị hoại tử. Từ đó hình thành các vết loét nhỏ phủ sợi huyết to dần lên bằng đồng xu hay hơn.

– Những mụn loét phủ vảy, bao gồm tổ chức hoại tử và fibrin màu vàng lục, nâu hoặc trắng xám nổi lên trên niêm mạc ruột thành mụn loét hình cúc áo.

– Trên vảy này có những vòng tròn đồng tâm do fibrin đông lại thành từng lớp qua từng đợt liên tục, ở giữa thấy nang lympho bị hoại tử, hình thành nốt loét.

– Về sau bề mặt của vảy mòn dần, hình vòng đồng tâm biến mất và phần giữa lõm xuống do nang lympho bị hoại tử tróc đi, bong ra làm cho mụn loét sâu có bờ.

– Hạch lympho tụ máu, sưng, màu đỏ sẫm, tím bầm, xuất huyết phần vỏ và chu vi.

– Khi bổ đôi có xuất huyết hình vân đá hoa hoặc xuất huyết toàn bộ.

– Lách không sưng hoặc ít sưng, có hiện tượng nhồi huyết, xuất huyết ở rìa lách hình thành những nốt có hình tam giác một đỉnh hướng về phía trong, đáy hướng ra ngoài.

Phần bệnh lồi lên, phần lành lõm xuống – Lách răng cưa.

– Thận xuất huyết lớp vỏ, ở mô thận bên ngoài thành những chấm đỏ hoặc tím, tròn bằng đầu đinh ghim, có khi to hơn.

– Khi bổ ra thấy trong bể thận xuất huyết, ứ máu hoặc có cục máu.

– Niêm mạc bàng quang có những chấm đỏ xuất huyết, bọng đái dày lên.

– Phổi viêm tụ máu có nhiều vùng gan hóa, hoại tử cứng lại, nhất là ở phía trước, gian chất giữa tiểu thùy thấm fibrin, có máu.

– Màng phổi có những chấm đỏ xuất huyết.

– Tủy xương màu đen nhạt, nhất là ở tổ chức xốp của đốt sống và xương.

– Trên da có chấm xuất huyết bằng đầu đinh ghim, hạt vừng, nhất là trên 4 chân.

– Nếu ghép với bệnh PTH thì có một số thay đổi sau về bệnh tích: lách sưng to cấp tính do bại huyết, do tăng sinh, viêm phúc mạc bài xuất tương dịch.

– Trong thể mạn tính hạch lympho, nhất là hạch lympho ruột có những nốt bã đậu, cazein hóa. Lớp biểu mô của ruột tự hoại tử.

– Nếu ghép với THT có viêm phổi thùy, viêm phổi tiểu thùy, phổi có nhiều điểm hoại tử, viêm màng phổi và có khi viêm ngoại tâm mạc có bài xuất tương dịch và fibrin và có xuất huyết ở nhiều nơi như phổi các phủ tạng, da,… tương tự trong bệnh tụ huyết trùng.

b. Thể mạn tính: Bệnh tích thường thấy ở ruột và phổi.

– Ruột viêm có mụn loét tròn, bờ đứng, phủ chất cazein. Ruột già dày cứng lên, niêm mạc trở nên sần sùi, màu vàng lục hay vàng bẩn.

– Phổi có bệnh tích mạn tính, dính vào lồng ngực bằng tổ chức liên chứa những cục hoại tử.

c. Bệnh tích đặc trưng:

– Sốt cao 41 – 420C kéo dài trong 4 – 5 ngày

– Chấm xuất huyết đỏ hoặc tím bầm trên da nhất là ở đùi và chân

– Mắt có dử đặc như mủ che lấp, đục giác mạc, thủng giác mạc, mắt tan thành mủ.

– Ỉa chảy phân lỏng có máu, thối khắm, không ăn nhiều ngày trước khi chết, gầy tọp khi chết.

– Chảy nước mũi đặc, loét vành mũi

– Ho, thở khó khò khè, nhịp thở rối loạn, đuôi rũ lưng cong, ngồi như chó để thở.

– Cơn co giật thân thể, bại liệt chân nhất là 2 chân sau, phần sau thân, đi chệch choạng, đầu vẹo, lê lết 2 chân sau hoặc bại liệt toàn thân.

– Viêm loét xuất huyết từ niêm mạc miệng, hầu đến dạ dày, ruột nhất là ở manh tràng (ruột già) có vết loét sâu hình cúc áo, có nhiều vòng fibrin đồng tâm

– Lách nhồi huyết, xuất huyết ở viền quanh rìa hình thành những nốt có hình tam giác một đỉnh hướng về phía trong, đáy hướng ra ngoài. Phần bệnh lồi lên, phần lành lõm xuống – Lách răng cưa.

– Thận xuất huyết ở mô và vỏ, ứ máu ở bể

– Hạch lâm ba tụ máu, xuất huyết đỏ sẫm, tím bầm.